Chỉ số chứng khoán

Chỉ số thế giới
 
 
 
Thị trường chứng khoán

Chứng khoán trước ngã rẽ của tăng trưởng tín dụng

Thứ 7 07/01/2012 23h:02
Chứng khoán trước ngã rẽ của tăng trưởng tín dụng
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy sụp của chứng khoán. Một trong những nguyên do chủ yếu không thể không nói đến là tăng trưởng tín dụng.
[if !mso]> [if gte mso 10]>



Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ đi về đâu trong năm 2012? Không ai có thể trả lời câu hỏi này khi năm qua được xem là năm xấu nhất trong lịch sử 11 năm thành lập thị trường. Lần đầu tiên, khái niệm cổ phiếu là tờ giấy gần như vô giá trị được thực tế chứng minh khi hàng trăm chứng khoán có giá 5.000-7.000 đồng, thậm chí 900-3.000 đồng.





Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy sụp của chứng khoán. Một trong những nguyên do chủ yếu không thể không nói đến là tăng trưởng tín dụng.





Chứng khoán biến động tỷ lệ thuận với mức tăng trưởng tín dụng trong suốt năm năm qua. Năm 2007 chỉ số VN-Index vượt 1.100 điểm khi tăng trưởng tín dụng “đại nhảy vọt” lên 53%. Năm tiếp theo tăng trưởng tín dụng tụt xuống chưa bằng một nửa, 25%, ngay lập tức chứng khoán đổ dốc.





Năm 2009 chứng khoán phục hồi trong sự “bừng dậy” của tăng trưởng tín dụng 39,6%, để rồi đi ngang theo chiều hướng xuống suốt năm 2010 khi tăng trưởng tín dụng bị hạ về mức 29%. Cuối năm đó, sự lạc quan của giới kinh doanh chứng khoán và nhà đầu tư đã phần nào bạc màu khi những cảnh báo về tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán của năm 2011 được dự kiến khá thấp và sau đó được điều chỉnh ở mức 20%.



Tuy nhiên không ai có thể ngờ tăng trưởng tín dụng năm ngoái lại “chìm sâu” đến vậy, ước 12%. Con số này là không tưởng trong 10 năm trở lại đây đối với một nền kinh tế mà sự tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn chứ không phải năng suất lao động cũng như sự đột phá về công nghệ.





Vì sao Ngân hàng Nhà nước (NHNN) lại kiên quyết đến vậy trong việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng trong năm 2011, thậm chí mức độ kiểm soát chặt chẽ sẽ còn tiếp diễn khi cơ quan này cho biết tăng trưởng tín dụng những năm tới trung bình khoảng 15%/năm?

Tín dụng ngân hàng là dành cho nền kinh tế nhằm tạo ra sự tăng trưởng GDP, chứ không phải vốn ngân hàng - kênh huy động tiền từ dân cư và doanh nghiệp - lại được dùng để tài trợ cho chứng khoán - một kênh huy động khác cho nền kinh tế






Lý giải nằm ở chỗ năm ngoái là năm đầu tiên của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế - một quá trình kéo dài hàng năm, mà một trong những trọng tâm là nâng cao hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn.





Viên gạch đầu tiên trong sự đổi mới việc sử dụng vốn không chỉ là cân nhắc thận trọng và hợp lý mức tăng trưởng tín dụng, mà còn là lần đầu tiên NHNN áp dụng cơ chế tín dụng theo quy mô của từng ngân hàng.



Những ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn, tổng mức huy động cao, tỷ lệ nợ xấu thấp sẽ được cấp một hạn mức tăng trưởng tín dụng ưu đãi hơn các đồng nghiệp. Trong số này sẽ có mặt ba ngân hàng Vietcombank, Vietinbank, BIDV, nơi Nhà nước vẫn đang nắm giữ cổ phần chi phối, cộng thêm Agribank và một số ngân hàng cổ phần hàng đầu.





Trong cơ cấu tín dụng của các đơn vị kể trên, dễ dàng nhận thấy vốn dành cho chứng khoán rất thấp, nếu không muốn nói là chiếm tỷ trọng không đáng kể. Đối tượng khách hàng tín dụng của họ những năm gần đây đang biến chuyển theo hướng mở rộng cho vay với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khối dân doanh. Họ vẫn tập trung một phần vốn cho doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn để duy trì gói dịch vụ đa dạng, toàn diện và thu hút tiền gửi trên tài khoản. Vì thế, cho dù tín dụng từ khối này tăng lên về con số tuyệt đối, cũng không hy vọng dòng vốn hỗ trợ đầu tư, kinh doanh chứng khoán sẽ chảy từ đây.





Vốn cho chứng khoán thời gian qua thường có nguồn gốc từ ngân hàng cổ phần. Phân tích tín dụng chứng khoán từ nhóm này cho thấy một số ngân hàng cổ phần lớn cho vay chứng khoán khá nhiều, thể hiện trong số vốn ủy thác đầu tư, ủy thác mua bán trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi… Số khác tỏ ra không mặn mà.



Trong số các ngân hàng cổ phần nhỏ, có những ngân hàng rất “trong sạch” theo đúng nghĩa của từ này. Những ngân hàng nhỏ mà không yếu ấy có mức tăng trưởng tín dụng trong tầm kiểm soát. Trình độ quản trị của họ khá vững nhờ sự hỗ trợ của những cổ đông là những ngân hàng lớn. Họ không cho vay chứng khoán.





Nhìn từ đây, vốn cho chứng khoán đã bắt nguồn từ đâu?





Từ một số ngân hàng cổ phần có công ty chứng khoán trực thuộc 100% vốn hoặc nắm giữ cổ phần chi phối, từ các công ty tài chính, từ vốn tự có của công ty chứng khoán, từ tiền nhàn rỗi của doanh nghiệp. Trong điều kiện bình thường, nguồn vốn từ dân cư đầu tư vào chứng khoán chiếm tỷ lệ lớn nhất. Nhưng hiện nay, chứng khoán là một kênh đầu tư ảm đạm và nó không phải là vùng trũng hút tiền của dân cư.





Nguồn vốn cho chứng khoán, từ các ngả truyền thống, rõ ràng đang không thuận lợi. Khi cái khung chung là tăng trưởng tín dụng bị hạn chế, cái khung nhỏ là tín dụng cho chứng khoán cũng bị rút xuống theo.







Quan trọng hơn, ngân hàng chỉ cho vay đầu tư chứng khoán trong trường hợp thị trường tăng trưởng, cổ phiếu tăng giá. Nếu cho vay mà giá cổ phiếu giảm và giảm nhanh, liên tục, thì ngân hàng bắt buộc giải chấp trước cả thời điểm đáo hạn. Nghĩa là cho vay chứng khoán hầu như không có kỳ hạn. Điều này hàm chứa nhiều rủi ro trong điều kiện hiện hành và chắc chắn không có ngân hàng nào mạnh dạn tài trợ cho kinh doanh chứng khoán trong một thị trường “con gấu”.





Trao đổi với TBKTSG mới đây về thị trường chứng khoán, một quan chức cấp cao của NHNN nói rằng nếu có tiền nhàn rỗi, ông sẽ mua cổ phiếu của những doanh nghiệp có khả năng trả cổ tức 15-20%/năm tính trên mệnh giá cho một thời hạn đầu tư 3-5 năm?





Vì sao phải 3-5 năm? Vì với thời gian đó ông có điều kiện thu hồi vốn đầu tư ít nhất một nửa, nhiều thì toàn bộ.





Cách nhìn của ông cho thấy giới đầu tư và kinh doanh chứng khoán cũng như xã hội phải có sự thay đổi nhận thức một cách sâu sắc về lĩnh vực này.





Ngay cả khi tăng trưởng tín dụng vượt hơn mong đợi, cũng nên thấu suốt cội rễ vấn đề là tín dụng ngân hàng là dành cho nền kinh tế nhằm tạo ra sự tăng trưởng GDP, chứ không phải vốn ngân hàng - kênh huy động tiền từ dân cư và doanh nghiệp - lại được dùng để tài trợ cho chứng khoán - một kênh huy động vốn khác cho nền kinh tế.





Sự khác nhau cơ bản giữa hai kênh chứng khoán và ngân hàng là ngân hàng là kênh huy động ngắn hạn, còn chứng khoán là kênh dài hạn. Không thể lấy ngắn hạn đầu tư cho dài hạn. Do đó tiền đầu tư vào chứng khoán phải có một sự thay đổi về chất. Tăng trưởng tín dụng, về lâu dài, sẽ không còn là một chỉ báo cho sự vận động của chứng khoán. Đây là điều mà các chủ thể của thị trường chứng khoán đã đến lúc phải hướng đến!





Theo Lưu Hảo
TBKTSG



Số lượt xem: 143
 
Bình luận
Đọc lại dữ liệu
Không có bình luận nào.
 


Nhập mã chứng thực:

Vui lòng gõ có dấu và không quá 1000 chữ.
 
Các tin mới
Các tin cũ
 
 

_

 
Đọc nhiều nhất
Bình luận  Mr Lam  viết trong  Nuôi cánh kiến đỏ, hướng thoát nghèo ở Mường Lát  lúc  22/9/2012  :  Tôi cần nhập số lượng lớn nhựa Cánh Kiến, vui long..
Bình luận  thang  viết trong  Đề xuất tách Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện  lúc  15/6/2012  :  đồng ý
Bình luận  vinh  viết trong  Hoa khôi - Doanh nhân Nguyễn Thu Hương: Người đẹp thẳng tay “đập nát bình hoa”  lúc  3/6/2012  :  tai sac di cung, qua la thanh cong
Bình luận  Vinh  viết trong  [Infographic] Apple qua các con số  lúc  15/5/2012  :  I love Apple !!!!!!!
Bình luận  Hồng Cương  viết trong  Một đại gia thế giới sắp rót vốn vào một ông lớn công nghệ Việt Nam?  lúc  23/4/2012  :  Theo giới thiệu vậy thì chắc chắn là VC Corp thôi,..
Bình luận  ThanhChung  viết trong  Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt  lúc  17/4/2012  :  Mot loai duoc thao qui hiem rat mong doc gia nen..
 
 
Bản quyền © 2005-2014 của ScTech. Phần mềm TradePortal phiên bản 4.

Liên kết website