Chỉ số chứng khoán

Chỉ số thế giới
 
 
 
Tài chính quốc tế

Nhà đầu tư nên làm gì trong cơn dư chấn của khủng hoảng tài chính?

Thứ 4 17/08/2011 11h:24
Nhà đầu tư nên làm gì trong cơn dư chấn của khủng hoảng tài chính?
Giống như động đất, sau khủng hoảng tài chính, dư chấn sẽ đến. Ai biết và dám đầu tư lúc này sẽ lãi. Từ đỉnh cao suy thoái năm 1937, nhà đầu tư Mỹ đã lãi tới 60% sau 1 năm.

Theo Nytimes, cũng giống như động đất, sau khủng hoảng tài chính, dư chấn sẽ đến, cũng giống như cái mà chúng ta trải qua trong tuần vừa rồi. Dư chấn có thể tồi tệ tương đương với khủng hoảng. Thế nhưng lịch sử kinh tế và các nghiên cứu cho thấy nó có thể đặt nền móng cho việc kinh tế phục hồi ổn định và cuối cùng TTCK tăng điểm.



Những sự kiện diễn ra trong tuần qua: sự bế tắc tại Washington xung quanh vấn đề trần nợ, S&P hạ xếp hạng tín dụng Mỹ, nỗi sợ về khủng hoảng nợ châu Âu và việc TTCK giảm điểm sâu khiến người ta nghĩ lại những gì đã xảy ra vào năm 1937 – 1938, thời kỳ suy thoái trong Đại Khủng hoảng và sau đó mọi chuyện tệ hơn rất nhiều.



Năm 1937, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 49% so với mức đỉnh cao vào năm 1937. Sản lượng của ngành sản xuất giảm khoảng 37%, mức hạ sâu hơn so với thời kỳ năm 1929 – 1933. Tỷ lệ thất nghiệp giảm rất chậm. Giá cả không ngừng hạ dẫn đến giảm phát.



Ông Robert McElvaine, tác giả cuốn “The Great Depression: America, 1929-1941” (tạm dịch Đại khủng hoảng 1929 – 1941) kiêm giáo sư lịch sử, nhận xét: “Điều tương tự với Đại Khủng hoảng trước đây đang lặp lại.” Hiện nay, các nhà hoạch định chính sách đang khốn khổ với việc làm sao để rút đi chính sách kích thích tài khóa, tiền tệ đã được đưa ra để ứng phó với khủng hoảng.



Có phải hiện nay chúng ta phải đương đầu với rủi ro tương tự không? Ông David Bianco, trưởng bộ phận chiến lược tại Merrill Lynch Bank of America, nhận xét: “Thị trường đang sụp đổ nhanh hơn so với bất kỳ yếu tố thực tế nào.” Khả năng nước Mỹ đương đầu với suy thoái kinh tế giống như thập niên 1937 dường như đã rõ ràng.



Tuy nhiên, ông Bianco khẳng định rằng thị trường đang tính khả năng kinh tế Mỹ suy thoái lên tới 80%, khả năng cao hơn so với năm 1991. (Merrill Lynch dự báo 35% về khả năng này).



Chỉ có 3 lần mà việc thị trường chứng khoán đi xuống không tiếp theo sau đó là suy thoái kinh tế: năm 1966, năm 1987 (sau khi thị trường chấn động vào tháng 10/1987) và năm 1998 (sau khi LTCM sụp đổ). Ông nhận xét: “Niềm tin đang lung lay và sụt giảm nghiêm trọng.” Ông khẳng định mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn khi giá cổ phiếu ngày một hạ sâu.



Đến năm 1937, kinh tế dường như đã phục hồi hoàn toàn, các nhà hoạch định chính sách Mỹ có thêm lý do để tin kinh tế đã đủ mạnh để có thể rút đi các chính sách kích thích kinh tế tăng trưởng.



Từ năm 1933 đến năm 1936, kinh tế Mỹ mỗi năm tăng trưởng đến 9% ( tương đương với Trung Quốc ngày nay), dù trước đó đi lên từ xuất phát điểm thấp. Nợ công tăng lên mức 40% GDP vào năm 1936 (từ mức 16% vào năm 1929).



Trước áp lực từ phía Đảng Cộng hòa và thành viên của chính Đảng Dân chủ, cựu Tổng thống Franklin D. Roosevelt và Quốc hội Mỹ quyết định tăng thuế thu nhập, giảm chi tiêu liên bang để cân bằng ngân sách liên bang.



Nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân trong khoảng thời gian từ năm 1936 đến năm 1937 tăng khoảng 66% và thuế đánh vào người có thu nhập trên 4.000USD tăng gần gấp đôi. Thuế đối với người có thu nhập trên 1 triệu USD lên đến mức 75%.



Bằng hàng loạt các biện pháp thắt chặt, Fed đã đẩy kinh tế Mỹ suy thoái trở lại. Năm 1936, giá cả bán buôn tăng mạnh, người ta lo sợ về lạm phát. Đã từng có lúc giới chuyên gia lo sợ chính sách nới lỏng tiền tệ của Fed thập niên 1920 dẫn đến tình trạng đầu cơ tài sản và cuối cùng thị trường chấn động vào năm 1929. Fed phản ứng lại bằng cách nâng mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng, nguồn cung tiền giảm mạnh.



Ông Milton Friedman, kinh tế gia đạt giải Nobel đổ lỗi cho Fed và việc nguồn cung tiền sụt giảm đã dẫn đến kinh tế suy thoái. Việc thị trường chứng khoán giảm điểm sâu đóng vai trò không nhỏ, thị trường giảm sâu đến nỗi nó xóa tan đi hiệu ứng tài sản khi giá cổ phiếu tăng trước đó, niềm tin sụt giảm sâu và người ta nhớ lại ký ức tồi tệ khi thị trường đi xuống.



Trong bối cảnh hiện tại, thật khó để đổ lỗi cho Fed rằng đã quá thận trọng trong chính sách tiền tệ, giống như Fed năm 1937. Ông Ben Bernanke, chủ tịch Fed, đã nghiên cứu rất kỹ về Đại Khủng hoảng và thừa biết phân tích tiền tệ của Milton Friedman. Ông Jeremy Siegel, giáo sư tài chính tại Wharton School of the University of Pennsylvania khẳng định Fed sẽ không lặp lại sai lầm cũ.



Trong tuần trước, Fed đã cam kết giữ lãi suất cơ bản ở mức 0% không phải trong thời gian không xác định mà trong 2 năm, lợi suất trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ lập tức rớt xuống mức thấp kỷ lục 0,19%. Nhà đầu tư sẽ tìm kiếm thu nhập từ các tài sản rủi ro mà sinh lời cao hơn.



Dù TTCK Mỹ có tăng điểm mạnh sau thông báo của chủ tịch Fed, ông Bianco cho biết ông tin nhà đầu tư không đánh giá đúng tầm quan trọng của động thái mà Fed đưa ra. Ông nói: “Bạn sẽ thấy chi phí sinh hoạt đi xuống. Niềm tin tăng lên. Fed không bỏ rơi chúng ta, Fed đang làm tất cả những gì có thể.”



Tuy nhiên chính sách tiền tệ cũng không thể làm được gì nhiều, đặc biệt nếu chính sách tài khóa đi ngược chiều.



Bà Christina Romer, giáo sư tại đại học University of California, người đã có nhiều nghiên cứu về Đại Khủng hoảng, cách đây 2 năm đã tuyên bố: “Người ta thường nhanh chóng muốn tuyên bố chiến thắng và đưa mọi thứ trở lại bình thường sau một cuộc khủng hoảng kinh tế. Cần phải kiềm chế ham muốn đó.”



Tuy nhiên, cuối cùng cả 2 đảng của Mỹ mắc kẹt với hàng loạt chính sách giảm thâm hụt ngân sách, đảng này muốn giảm chi tiêu, đảng khác muốn tăng thuế.



Việc TTCK Mỹ giảm điểm mạnh trong thời gian qua có thể không hoàn toàn phản ánh việc S&P hạ xếp hạng tín dụng của Mỹ hay nỗi lo về tình hình bế tắc chính trị, mà rộng hơn, nó đại diện cho nỗi sợ của nhà đầu tư về khả năng cách tiếp cận của cả 2 đảng có thể dẫn đến một cuộc suy thoái kinh tế mới khi các nhà hoạch định chính sách rút đi kế hoạch kích cầu quá vội vàng.



Không ai phản đối cần giảm thâm hụt ngân sách, bằng con đường giảm chi tiêu hay tăng thuế hoặc cả hai. Vấn đề là khi nào?



Về thời kỳ kinh tế Mỹ suy thoái năm 1937 – 1938, dù tồi tệ đến đâu đi nữa, cùng chỉ kéo dài khoảng 1 năm, từ tháng 5/1937 đến tháng 6/1938 (theo tất cả mọi phương pháp tính toán). Năm 1937, TTCK sụt giảm sâu, chính phủ Mỹ buộc phải hành động.



Fed đảo ngược lại chính sách nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng và giảm lãi suất chiết khẩu xuống 1%. Tháng 4/1937, cựu Tổng thống Roosevelt công bố chương trình chi tiêu –

Số lượt xem: 93
 
Bình luận
Đọc lại dữ liệu
Không có bình luận nào.
 


Nhập mã chứng thực:

Vui lòng gõ có dấu và không quá 1000 chữ.
 
Các tin mới
Các tin cũ
 
 

_

 
Đọc nhiều nhất
Bình luận  Mr Lam  viết trong  Nuôi cánh kiến đỏ, hướng thoát nghèo ở Mường Lát  lúc  22/9/2012  :  Tôi cần nhập số lượng lớn nhựa Cánh Kiến, vui long..
Bình luận  thang  viết trong  Đề xuất tách Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện  lúc  15/6/2012  :  đồng ý
Bình luận  vinh  viết trong  Hoa khôi - Doanh nhân Nguyễn Thu Hương: Người đẹp thẳng tay “đập nát bình hoa”  lúc  3/6/2012  :  tai sac di cung, qua la thanh cong
Bình luận  Vinh  viết trong  [Infographic] Apple qua các con số  lúc  15/5/2012  :  I love Apple !!!!!!!
Bình luận  Hồng Cương  viết trong  Một đại gia thế giới sắp rót vốn vào một ông lớn công nghệ Việt Nam?  lúc  23/4/2012  :  Theo giới thiệu vậy thì chắc chắn là VC Corp thôi,..
Bình luận  ThanhChung  viết trong  Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt  lúc  17/4/2012  :  Mot loai duoc thao qui hiem rat mong doc gia nen..
 
 
Bản quyền © 2005-2014 của ScTech. Phần mềm TradePortal phiên bản 4.

Liên kết website