Chỉ số chứng khoán

Chỉ số thế giới
 
 
 
Tài chính quốc tế

Tương lai của ngân hàng đầu tư Buổi chạng vạng của các ngân hàng đầu tư?

Thứ 2 20/05/2013 07h:00
Tương lai của ngân hàng đầu tư 
Buổi chạng vạng của các ngân hàng đầu tư?
Ngành ngân hàng đầu tư đang đối mặt với một tương lai mù mịt hơn, mặc dù một số sẽ nổi lên từ cuộc khủng hoảng tài chính và trở nên to lớn hơn, quyền lực hơn.

Cách đây 50 năm, chính tờ Economist cho rằng các ngân hàng Anh là ngành đang sụt giảm với tốc độ nhanh nhất. Economist cũng đặt câu hỏi liệu ngân hàng có tương lai hay không. Thế nhưng, hãy nhìn vào những gì đang diễn ra hiện nay. 






Ngành ngân hàng đã phát triển mạnh mẽ trong suốt thời kỳ từ năm 1963 đến khi khủng hoảng tài chính nổ ra năm 2008. Các cổ đông và nhân viên ngân hàng nhận được những phần thưởng hậu hĩnh. Tỷ lệ lợi nhuận/vốn chủ sở hữu (ROE) – thước đo lợi nhuận của các ngân hàng – thường ở mức 20 – 25% và thậm chí là cao hơn nhiều đối với các ngân hàng thành công. Không chỉ nhân viên ngân hàng, nhân viên của toàn bộ ngành tài chính cũng chứng kiến mức lương của họ tăng lên nhanh chóng. 






Dylan Grice – nhà quản lý quỹ đến từ Edelweiss, lưu ý rằng trong danh sách 50 người giàu nhất nước Mỹ được Forbes công bố năm ngoái, có tới 12 người làm việc trong ngành tài chính. Năm 1982, không có ai làm trong này lọt vào danh sách. 






Kể từ khi khủng hoảng nổ ra, lợi nhuận của các ngân hàng cũng lao dốc. Tập đoàn tư vấn Boston Consulting Group (BCG) thừa nhận rằng chỉ số ROE của các ngân hàng đầu tư lớn nhất thế giới đã sụt giảm mất một nửa, xuống còn khoảng 10% ở châu Âu và 13% ở Mỹ. Triển vọng thậm chí còn tồi tệ hơn. 






Các quan điểm về khả năng tăng trưởng và tạo ra lợi nhuận của khu vực tài chính cũng đang phân cực rõ ràng. Nhóm đầu tiên (có thể chiếm đa số) hi vọng và tin rằng cơn bão sẽ qua đi trong khi nhóm còn lại cho rằng ngành tài chính và các luật lệ sẽ mãi mãi thay đổi. Còn theo đánh giá của Economist, sẽ ngày càng có nhiều người nhận ra rằng mọi thứ không bao giờ có thể trở lại như xưa.






Ngành tài chính bùng nổ mạnh mẽ trong thời kỳ trước khủng hoảng đã đẩy tỷ lệ nợ của khu vực tư nhân ở các nền kinh tế phát triển tăng mạnh. Ở các nước này, tài sản của các ngân hàng tăng từ mức trung bình 50% GDP trong những năm 1960 lên khoảng 200% GDP tính đến cuối những năm 2000.






Ở những nước có ngành ngân hàng phát triển (như Anh), tài sản của các ngân hàng gấp 5 lần GDP. Ở Iceland và Thụy Sĩ, tỷ lệ còn lên đến 8 – 10 lần. Ở Mỹ, nơi Main Street lớn hơn Wall Street, tỷ lệ tài sản của các ngân hàng/GDP đã tăng gần gấp đôi trong 15 năm tính đến khủng hoảng tài chính, lên 126%.  






Quy mô của bảng cân đối kế toán cũng tăng mạnh. Theo Andy Haldane - người phụ trách ổn định tài chính tại NHTW Anh (Bank of England), trong suốt thế kỷ tính đến năm 1970, tài sản của các ngân hàng tại 14 nền kinh tế lớn đã tăng với tốc độ trung bình năm hàng năm cao hơn 0,6% so với tốc độ tăng GDP. Tuy nhiên, sau năm 1970, tỷ lệ tài sản/GDP tăng thêm khoảng 3 điểm phần trăm mỗi năm.  






Hầu hết các lý do giải thích cho sự tăng trưởng bất thường này đều là lý do tích cực. Khi các công ty lớn bắt đầu hoạt động ở nhiều quốc gia hơn, họ cần đến các ngân hàng lớn có thể giúp họ giao dịch xuyên biên giới, tài trợ cho các nhà máy, trả lương cho công nhân và bảo vệ họ trước các biến động tỷ giá hay lãi suất. Trong vòng 12 năm trước khủng hoảng, hoạt động thương mại đã tăng từ 22% lên 33% GDP kinh tế toàn cầu.






Bãi bỏ nhiều qui định đối với các ngân hàng cũng như sản phẩm tài chính và TTCK cũng là một phần nguyên nhân.  Tài trợ mua nhà bằng cách sử dụng các chứng khóa có đảm bảo bằng tài sản thế chấp khiến chi phí đi vay của hàng triệu hộ gia đình giảm xuống.  Lần đầu tiên, một bộ phận lớn trong dân chúng vốn trước đó không thể đi vay đã có thể mua nhà.






Tuy nhiên, dường như mọi việc đã đi quá xa. Trong số hàng triệu ngôi nhà được tài trợ, một bộ phận không nhỏ được mua bởi những người không có khả năng hoặc không có ý định sẽ trả nợ. Việc bãi bỏ luật lệ cũng khiến các ngân hàng chấp nhận nhiều rủi ro hơn. Các nhân viên ngân hàng phải chịu trách nhiệm về điều này. Tuy nhiên, các NHTW và các nhà quản lý cũng phải chịu trách nhiệm trước làn sóng tín dụng dâng cao ồ ạt trong thời kỳ đầu những năm 2000.  






Đúng là những sáng kiến của các ngân hàng đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, do tạo ra nhiều chứng khoán được mua đi bán lại giữa các ngân hàng, chúng cũng góp phần thổi phồng qui mô của khu vực tài chính. McKinsey đã phải thừa nhận rằng khoảng 1/3 lượng tăng lên trong tỷ lệ nợ/GDP trong thời kỳ trước khủng hoảng đến từ việc các ngân hàng tăng qui mô bảng cân đối kế toán. Lượng trái phiếu được phát hành bởi các ngân hàng cao gấp 5 lần so với bởi các công ty. 






Thu Hương



Theo Trí Thức Trẻ/Economist















Số lượt xem: 85
 
Bình luận
Đọc lại dữ liệu
Không có bình luận nào.
 


Nhập mã chứng thực:

Vui lòng gõ có dấu và không quá 1000 chữ.
 
Các tin mới
Các tin cũ
 
 

_

 
Đọc nhiều nhất
Bình luận  Mr Lam  viết trong  Nuôi cánh kiến đỏ, hướng thoát nghèo ở Mường Lát  lúc  22/9/2012  :  Tôi cần nhập số lượng lớn nhựa Cánh Kiến, vui long..
Bình luận  thang  viết trong  Đề xuất tách Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện  lúc  15/6/2012  :  đồng ý
Bình luận  vinh  viết trong  Hoa khôi - Doanh nhân Nguyễn Thu Hương: Người đẹp thẳng tay “đập nát bình hoa”  lúc  3/6/2012  :  tai sac di cung, qua la thanh cong
Bình luận  Vinh  viết trong  [Infographic] Apple qua các con số  lúc  15/5/2012  :  I love Apple !!!!!!!
Bình luận  Hồng Cương  viết trong  Một đại gia thế giới sắp rót vốn vào một ông lớn công nghệ Việt Nam?  lúc  23/4/2012  :  Theo giới thiệu vậy thì chắc chắn là VC Corp thôi,..
Bình luận  ThanhChung  viết trong  Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt  lúc  17/4/2012  :  Mot loai duoc thao qui hiem rat mong doc gia nen..
Tin tổng hợp từ các báo
 
 
Bản quyền © 2005-2014 của ScTech. Phần mềm TradePortal phiên bản 4.

Liên kết website