Chỉ số chứng khoán

Chỉ số thế giới
 
 
 
Tài chính quốc tế

Cung tiền của Mỹ vẫn giảm bất chấp nỗ lực của FED

Thứ 6 15/10/2010 15h:40
Cung tiền của Mỹ vẫn giảm bất chấp nỗ lực của FED
Ngân hàng không chịu cho vay mà thay vào đó tích trữ tiền mặt và các tài sản ít rủi ro để đối phó với khả năng phải chịu các yêu cầu về vốn khắt khe hơn trong tương lai.

Kể từ khi bong bóng kinh tế đổ vỡ, FED đã nới lỏng chính sách tiền tệ, duy trì giá trị bảng cân đối kế toán bằng cách mua trái phiếu chính phủ và hạ thấp lãi suất. Bất chấp điều này, có vẻ cung tiền của Mỹ không tăng.



Thực tế, theo nhiều phương pháp tính như theo MZM (bao gồm tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn và các quỹ trên thị trường tiền tệ) hay theo M2 (bao gồm tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn), cung tiền thực tế đã giảm so với năm ngoái.



Dù FED ngừng công bố đánh giá về phương pháp tính cung tiền rộng nhất (M3) kể từ năm 2005 nhưng một số ước tính cho rằng con số này đang giảm với tốc độ nhanh nhất kể từ thời Đại suy thoái.



Vì sao những nỗ lực của FED thất bại? Vì ngân hàng đang thu hẹp hoạt động.



Cuối năm 2008, dữ liệu của Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi liên bang FDIC cho thấy tổng tài sản của khoảng 8.000 ngân hàng họ bảo hiểm là 13,84 nghìn tỷ USD. Cuối quý II năm nay, họ nắm giữ tổng cộng 13,22 nghìn tỷ USD, tức giảm 620 tỷ USD.



Tài sản giảm nên cho vay cũng ít đi. Từ mùa hè năm 2008 tới nay, tín dụng doanh nghiệp của các ngân hàng Mỹ đã giảm 315 tỷ USD từ 1,49 nghìn tỷ USD xuống 1,175 nghìn tỷ USD.



Cho vay thế chấp mua nhà giảm từ 2,155 nghìn tỷ USD xuống 1,874 nghìn tỷ USD. Tổng cộng, tổng giá trị các khoản vay của hệ thống ngân hàng Mỹ đã giảm 600 tỷ USD từ 7,996 nghìn tỷ USD xuống 7,395 nghìn tỷ USD.



Điều này là do nhiều nguyên nhân. Quy mô thị trường tín dụng thu hẹp vì ngân hàng không còn cho những khách hàng có nhiều rủi ro vay tiền.



Thêm vào đó, dòng tiền của khối doanh nghiệp đã được cải thiện vì nền kinh tế vẫn tăng trưởng dù có chậm chạp. Do đó, doanh nghiệp không cần vay mượn nhiều.



Tuy vậy, lý do chính khiến tín dụng ngân hàng giảm xuống là các tiêu chuẩn về vốn tăng lên khiến họ không còn muốn cho vay nữa. Chắc chắn họ không thiếu vốn.



Dữ liệu của FDIC cho thấy tỷ lệ vốn cổ phần thường của hệ thống ngân hàng trên tổng tài sản của tất cả các ngân hàng tương đương với con số của năm 1937.



Nếu tính “tỷ lệ vốn” của ngân hàng bằng cách tính thêm các quỹ rồi chia cho tài sản, có lẽ hệ thống ngân hàng còn có nhiều vốn hơn bất kỳ thời điểm nào kể từ năm 1934.



Dù vậy ngân hàng thà giữ tiền còn hơn cho vay ra. Vì sao?



Vì kể từ khi bong bóng vỡ, giới chính trị và các nhà hoạch định chính sách đã và đang khăng khăng rằng sự khinh suất của ngân hàng khi cho vay là thủ phạm chính và yêu cầu ngân hàng phải hình thành một “tấm đệm” về vốn để bảo đảm cho cả hệ thống.



Trong 18 tháng qua, để đáp ứng được cá tiêu chuẩn về tỷ lệ vốn cao hơn, ngân hàng đã phải huy động thêm 192 tỷ USD bằng cách phát hành cổ phiếu và cố tăng thêm lợi nhuận.



Nhưng với các cơ quan giám sát, thế vẫn là chưa đủ. Ngân hàng cũng đã phải giảm quy mô bảng cân đối kế toán của mình, tức cũng sẽ có ít khoản vay chưa thanh toán hơn.



Vấn đề với các ngân hàng dư thừa vốn là việc họ ngừng cho vay tạo ra một hiệu ứng domino. Khi khoản vay được thanh toán, nó bị trừ đi khỏi tổng cung tiền.



Dù các nhà kinh tế có thể tranh luận liệu cung tiền tăng có cần thiết cho tăng trưởng kinh tế nhưng khó tìm được nền kinh tế nào tăng trưởng được trong khi cung tiền lại giảm.



Nhưng điều đó không ngăn được các cơ quan giám sát yêu cầu một tỷ lệ vốn ngân hàng ngày một cao hơn thông qua Đạo luật Cải cách tài chính Dodd-Frank và các hiệp định về ngân hàng khác như Basel II và III.



Và họ làm vậy đúng lúc luật mới hạn chế một số công cụ tài chính mà ngân hàng sử dụng để huy động vốn như các loại chứng khoán ưu đãi ủy thác (trust-preferred securities), một loại hình lai ghép giữa chứng khoán vốn và chứng khoán nợ.



Về bản chất, chính phủ đã làm suy yếu khả năng tiếp cận vốn của ngân hàng trong khi lại yêu cầu họ phải tăng tỷ lệ vốn.



Thêm nữa Quốc hội và các cơ quan giám sát lại thay đổi cách tính vốn của một ngân hàng. Tỷ lệ này đơn giản từng được tính bằng cách cộng vốn cổ phần thường với các quỹ.



Tuy vậy, ngày nay chính quyền sử dụng một biện pháp gọi là vốn cấp 1 (tier 1 capital). Đây là một phương pháp tính cực kỳ phức tạp và không còn sử dụng tài sản ngân hàng để tính tỷ lệ vốn trên tài sản nữa.



Thay vào đó, nó sử dụng một thuật ngữ gọi là “tài sản điều chỉnh theo rủi ro”. Không cần đi vào chi tiết nhưng cách tính mới khuyến khích ngân hàng nắm giữ tiền mặt và trái phiếu do chính phủ bảo đảm thay vì cho vay.



Vì thế có thể hiểu được vì sao ngân hàng giảm các khoản cho vay và tăng cường nắm giữ tiền mặt và trái phiếu chính phủ.



Trước khủng hoảng ngân hàng, tiền mặt và trái phiếu chính phủ chỉ chiếm 5,7% tài sản các ngân hàng Mỹ. Nay tỷ lệ này đã tăng lên 9,4%.



Lấy ví dụ như các ngân hàng lớn nhất ở Mỹ. Bank of America dù giảm cả tài sản và tín dụng nhưng vẫn có tới 172 tỷ USD tiền mặt trên bảng cân đối kế toán. Citibank có 185 tỷ USD tiền mặt; JPMorgan Chase có 72 tỷ. Dù vậy khó mà vay được gì từ họ.



Với các ngân hàng nhỏ, vấn đề này còn đau đầu hơn. Từ hàng thập kỷ nay các ngân hàng cấp vùng dựa vào các chứng khoán ủy thác ưu đãi để huy động vốn.



Không những trong tương lai họ bị cấm sử dụng công cụ này mà còn phải thay thế nó bằng vốn cổ phần thường, tức họ phải phát hành thêm cổ phiếu thường.



Với điều kiện thị trường hiện nay, họ khó có thể làm được điều đó khi mà cổ phiếu ngân hàng đang giao dịch thấp hơn nhiều so với giá trị tài sản ròng.



Kết quả là, nhiều ngân hàng sẽ bị đóng cửa hoặc bị bán với giá rẻ mạt cho các ngân hàng lớn, giúp các ngân hàng này vươn tay tới các thị trường nhỏ bé hơn.



Với thái độ thù địch với giới ngân hàng, khó hy vọng các yêu cầu về vốn đã áp dụng trong 2 năm vừa qua được nới lỏng.



Nhưng chỉ nên dừng lại ở đó và cho phép ngân hàng huy động vốn cho các hoạt động kinh doanh bình thường bằng cách sử dụng các chứng khoán nợ dài hạn có quyền ư tiền thanh toán (thời gian đáo hạn trên 10 năm) đáng tin cậy.



Không ai muốn thập kỷ tới lại có thêm một cuộc khủng hoảng nữa. Nhưng đó không phải là lý do để kiềm chế quá trình phục hồi.



Khi buộc ngân hàng giữ tiền, chính phủ và các cơ quan giám sát ngân hàng đã không tính tới tác động tới cung tiền cũng như toàn nền kinh tế



Tác giả bài viết là ông Richard X. Bove, Phó Chủ tịch cao cấp về nghiên cứu cổ phiếu tại một CTCK Rochdale



Kiều Khanh
Theo Economist

Số lượt xem: 149
 
Bình luận
Đọc lại dữ liệu
Không có bình luận nào.
 


Nhập mã chứng thực:

Vui lòng gõ có dấu và không quá 1000 chữ.
 
Các tin mới
Các tin cũ
 
 

_

 
Đọc nhiều nhất
Bình luận  Mr Lam  viết trong  Nuôi cánh kiến đỏ, hướng thoát nghèo ở Mường Lát  lúc  22/9/2012  :  Tôi cần nhập số lượng lớn nhựa Cánh Kiến, vui long..
Bình luận  thang  viết trong  Đề xuất tách Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện  lúc  15/6/2012  :  đồng ý
Bình luận  vinh  viết trong  Hoa khôi - Doanh nhân Nguyễn Thu Hương: Người đẹp thẳng tay “đập nát bình hoa”  lúc  3/6/2012  :  tai sac di cung, qua la thanh cong
Bình luận  Vinh  viết trong  [Infographic] Apple qua các con số  lúc  15/5/2012  :  I love Apple !!!!!!!
Bình luận  Hồng Cương  viết trong  Một đại gia thế giới sắp rót vốn vào một ông lớn công nghệ Việt Nam?  lúc  23/4/2012  :  Theo giới thiệu vậy thì chắc chắn là VC Corp thôi,..
Bình luận  ThanhChung  viết trong  Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt  lúc  17/4/2012  :  Mot loai duoc thao qui hiem rat mong doc gia nen..
 
 
Bản quyền © 2005-2014 của ScTech. Phần mềm TradePortal phiên bản 4.

Liên kết website