Chỉ số chứng khoán

Chỉ số thế giới
 
 
 
Tài chính quốc tế

Bóng ma của quá khứ

Chủ nhật 17/10/2010 08h:51
Bóng ma của quá khứ
Những người đạt giải Nobel Kinh tế sẽ giúp gì cho Chính quyền Tổng thống Barack Obama đối phó với khủng hoảng kinh tế?

Rõ ràng, Tổng thống Mỹ Barack Obama và Đảng của ông đang gặp khó khăn lớn. Cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ngày 2/11 tới đây sẽ là câu trả lời rõ ràng về hoạt động quản lý nền kinh tế của Đảng Dân chủ.





Chính xác hơn, cuộc bầu cử sẽ là cuộc trưng cầu dân ý về ông Obama và các dự đoán kinh tế của người tiền nhiệm của ông, dựa vào lý thuyết kinh tế đã có trên 70 năm: Cứu trợ hệ thống tài chính và các công ty sản xuất ôtô, gói kích cầu kinh tế, quy định điều chỉnh ở Phố Wall, và chính sách cắt giảm thuế cho những người Mỹ giầu nhất của Tổng thống George W.Bush.





Với dự đoán của Goldman Sachs, nền kinh tế Mỹ sẽ “khá tồi tệ” hoặc “rất tồi tệ” trong vài tháng tới, ông Obama có thể đã vận dụng một lời khuyên gần như không khôn ngoan. Do vậy, trong khi chúng ta chờ đợi thông báo về người (những người) đạt giải Nobel Kinh tế lần thứ 42, hãy xem những người đã đạt giải Nobel trước kia giúp gì cho chúng ta để hiểu cuộc khủng hoảng kinh tế đang diễn ra - và những gì họ sử dụng để đưa ra các giải pháp vốn đã được thực hiện hoặc đề xuất.





Một câu hỏi từ cuộc suy thoái kinh tế đang diễn ra là liệu việc cứu trợ các ngân hàng lớn nhất và nhà sản xuất ô-tô lớn nhất có khôn ngoan hay không. Một mặt chúng ta thấy rằng các khoản cứu trợ là sự bành trướng không cần thiết của Chính phủ vào lĩnh vực tư nhân.





Chắc chắn Friedrich Hayek (giải Nobel năm 1974) sẽ đồng ý và cảnh báo rằng các khoản cứu trợ vi phạm nguyên tắc của doanh nghiệp tư nhân, đe dọa đẩy đất nước vào con đường nguy hiểm tiến đến xã hội hóa. Đảng của những phản đối (Tea Party*) đã nhận thấy điểm tương đồng ở Hayek - và thực tế các thành viên uyên bác của Đảng này thường xuyên nhắc đến ông.





James Buchanan (giải Nobel năm 1986) đưa ra tranh luận ít tính triết học hơn về các khoản cứu trợ. Theo tranh luận của ông, trong Chính phủ chỉ toàn là những quan chức quan liêu chỉ lo cho quyền lợi của mình và luôn coi họ là trên hết - làm sao những quan chức như vậy có thể đưa ra lựa chọn khách quan ngân hàng nào để cứu trợ và bỏ ngân hàng nào? Quyết định của họ dựa vào lợi ích của số đông dân chúng hay dựa vào quyền lợi của riêng họ?





Mặt khác, Paul Samuelson (giải Nobel năm 1970) có thể đã chỉ ra những tương đồng giữa tình hình hiện tại và cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 1933, khi Chính phủ phải cứu trợ hệ thống tài chính trong một thời gian đủ dài nhằm cho phép lĩnh vực tư nhân có thời gian hồi phục.





Ở cấp độ kinh tế vĩ mô, việc để cho một ngân hàng phá sản có thể tốt, nhưng việc để cho nhiều ngân hàng lớn phá sản có thể là thảm họa. Sự phá sản của 1 ngân hàng lớn có thể gây khó khăn nghiêm trọng cho ngân hàng khác theo hiệu ứng dây chuyền, gây ra tình trạng hỗn loạn trong lĩnh vực tài chính.





Thậm chí việc cứu trợ thành công có thể gây ra nhiều vấn đề về dài hạn nếu các ngân hàng bắt đầu tin rằng Chính phủ sẽ tiếp tục cứu trợ họ trong tương lai. Kết quả là những ngân hàng này có thể tiếp tục tiến hành các khoản đầu tư rủi ro, một khái niệm theo mô tả của Kenneth Arrow (giải Nobel năm 1972) và Joseph Stiglitz (giải Nobel năm 2001) là mối nguy đạo đức.





Gói kích cầu thì sao, với sự gia tăng mạnh mẽ về chi tiêu của Chính phủ? Gói kích cầu có giúp nền kinh tế Mỹ tăng trưởng ? Các mô hình kinh tế của Edward Prescott và Finn Kydland (giải Nobel năm 2004) có thể cho thấy không một lợi ích nào hết. Mô hình chu kỳ kinh doanh thực sự mà 2 nhà kinh tế này đưa ra nói chung cho thấy gói kích cầu không giúp giải quyết thâm hụt của Chính phủ trong ngắn hạn hoặc dài hạn.





Tuy nhiên, mô hình của Lawrence Klein (giải Nobel năm 1980) lại cho thấy lợi ích tích cực vì các phương trình của ông xuất phát từ lý thuyết của John Maynard Keynes – một lý thuyết gia kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng lớn. Trong một mô hình kiểu Keynes, chi tiêu thâm hụt của Chính phủ sẽ tiếp sinh lực cho một nền kinh tế đang suy yếu và có thể kích thích đầu từ và tiêu dùng trong lĩnh vực tư nhân.





Còn về việc cắt giảm thuế trong gói kích cầu thì sao - việc này có lợi không? James Tobin (giải Nobel năm 1981), thành viên Hội đồng Tư vấn Kinh tế trong những năm 1960, đã thuyết phục Tổng thống John F. Kennedy cắt giảm 11 tỷ USD thuế cá nhân và doanh nghiệp để chống chọi với cuộc suy thoái quy mô nhỏ. Gói kích cầu đã mang lại hiệu quả, và trở thành một yếu tố thiết yếu các chính sách kiểu Keynes, truyền cảm hứng cho gói kích cầu năm 2009.





Trong suốt cuộc khủng hoảng hiện tại, Paul Krugman (giải Nobel năm 2008) tán thành việc tăng chi tiêu và cắt giảm thuế, nhưng tranh luận rằng những hành động trong phạm vi trong gói kích cầu là chưa đủ xét đến mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng.





Việc sử dụng các chính sách tài khóa như những công cụ điều chỉnh nền kinh tế luôn là vấn đề gây tranh cãi.





Theo lý thuyết của Edmund Phelps (giải Nobel năm 2006) và Milton Friedman (giải Nobel năm 1976), chúng hoàn toàn không thích hợp - tỷ lệ thất nghiệp cố định trong dài hạn, Phelps và Friedman tranh luận, và không một khoản chi tiêu nào của chính phủ hoặc khoản cắt giảm thuế nào có thể thay đổi thực tế đó. Thậm chí nếu gói kích cầu tạm thời giảm tỷ lệ thất nghiệp, trong lý thuyết này, nó sẽ hoàn toàn không hiệu quả về dài hạn.





Tư tưởng của James Tobin về việc cắt giảm thuế ít rõ ràng hơn. Mặc dù ông ủng hộ biện pháp này trong thời kỳ Kennedy làm tổng thống, nhưng ông không nói gì tốt đẹp về việc cắt giảm thuế mà Tổng thống Reagan thực hiện, một chính sách mà ông nghĩ là gần như không làm được gì ngoài “tái phân phối sự giàu có và quyền lực cho người giàu và quyền lực.”





Chắc chắn Tobin không ủng hộ việc mở rộng chương trình cắt giảm thuế của chính quyền Bush - cái mà Hạ viện Mỹ do Đảng Dân chủ chiếm đa số dường như sẵn sàng làm ngày nay - đối với tầng lớp thượng lưu vốn đã trở nên giầu có hơn và quyền lực hơn một cách đáng ngờ trong những năm 1960.





Bạn sẽ mong tìm thấy Robert Mundell (giải Nobel năm 1999), một người đề xuất lỗi lạc kinh tế học biểu thị chính sách hạ mức thuế để khuyến khích sản xuất và đầu tư trong những năm 1980, ở bên đối lập của tranh luận: Theo Mundel, việc cắt giảm thuế cho người giàu khuyến khích họ đầu tư nhiều hơn và làm việc cật lực hơn, do vậy, mang lại lợi ích cho cả nền kinh tế.





Tiếp đến là FED bang vốn đóng vai trò chính trong cuộc chiến chống khủng hoảng kinh tế bằng việc bơm các khoản tiền lớn và thanh khoản vào nền kinh tế Mỹ.





Franco Modigliani (giải Nobel năm 1985) là một trong những người đầu tiên theo trường phái Keynes ủng hộ mở rộng chính sách tiền tệ như trường hợp này trong điều kiện tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao. Chiến lược này dường như đã mang lại kết quả, kéo dài đủ lâu để cuối cùng trở thành công cụ tiêu chuẩn đối với FED, công cụ ngân hàng triển khai năm 2008.





Nhưng Friedman có thể phản đối mạnh mẽ bất kỳ nỗ lực nào của FED trong việc tăng nguồn cung cấp tiền lấy lý do chống lại suy thoái. Kết quả của chiến lược sai lầm như vậy theo lý thuyết kiểm tra lưu thông tiền tệ của ông, sẽ là lạm phát chứ không phải là phục hồi kinh tế.





Có một khái niệm ở đây, ở đó hầu hết các nhà kinh tế có thể đồng ý: vai trò của FED như ngân hàng cho vay của khu nghỉ dưỡng cuối cùng. Khi sự hoảng loạn xảy ra tại các thị trường tài chính, tình hình xấu hơn do thiếu hụt tạm thời, ngân hàng trung ương có cơ hội duy nhất để cung cấp thanh khoản - rốt cuộc, đây là 1 trong những mục đích ban đầu của ngân hàng.





Không rõ ràng có phải không? Mọi việc sẽ rõ ràng nếu bạn tìm kiếm hướng dẫn chính sách rõ ràng, không mơ hồ, danh sách những người đoạt giải Nobel có thể là tài liệu tốt để tham khảo. Không giống vật lý, hóa học, sinh học và dược phẩm, Giải Nobel kinh tế ít khi đưa ra một khám phá đã được thẩm tra mà thường đề cao những ý tưởng thú vị và mới lạ.





Tuy nhiên, với nỗ lực lớn nhất các lý thuyết kinh tế đạt giải Nobel có thể truyền cảm hứng cho các chính sách bảo vệ môi trường, giảm nghèo và tỷ lệ thất nghiệp, kiềm chế lạm phát, đảm bảo thịnh vượng, và tất nhiên, tránh suy thoái kinh tế. Hãy hy vọng những điều tốt đẹp nhất.





Đảng những người phản đối (Tea Party movement) là một phong trong chính trị theo chủ nghĩa dân túy ở Mỹ xuất hiện vào năm 2009 thông qua một loạt các cuộc phản đối ở cấp độ vùng và quốc gia.





Các cuộc phản đối tập trung vào các đạo luật Liên bang: Đạo luật Ổn định Kinh tế khẩn cấp năm 2008 (Emergency Economic Stabilization Act of 2008), Đạo luật Tái đầu tư và Phục hồi Mỹ năm 2009 (American Recovery and Reinvestment of 2009), và một loạt dự luật cải cách y tế.





Tên Tea Party bắt nguồn từ Hiệp hội Chè Boston, sự kiện năm 1773, một phần của phong trào ở Châu Mỹ thuộc địa (British America) chống lại Đạo luật Chè được Quốc hội Anh phê chuẩn năm 1773.







Theo HT



Báo Doanh nhân Việt Nam toàn cầu(DVT)/Economist




Số lượt xem: 124
 
Bình luận
Đọc lại dữ liệu
Không có bình luận nào.
 


Nhập mã chứng thực:

Vui lòng gõ có dấu và không quá 1000 chữ.
 
Các tin mới
Các tin cũ
 
 

_

 
Đọc nhiều nhất
Bình luận  Mr Lam  viết trong  Nuôi cánh kiến đỏ, hướng thoát nghèo ở Mường Lát  lúc  22/9/2012  :  Tôi cần nhập số lượng lớn nhựa Cánh Kiến, vui long..
Bình luận  thang  viết trong  Đề xuất tách Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện  lúc  15/6/2012  :  đồng ý
Bình luận  vinh  viết trong  Hoa khôi - Doanh nhân Nguyễn Thu Hương: Người đẹp thẳng tay “đập nát bình hoa”  lúc  3/6/2012  :  tai sac di cung, qua la thanh cong
Bình luận  Vinh  viết trong  [Infographic] Apple qua các con số  lúc  15/5/2012  :  I love Apple !!!!!!!
Bình luận  Hồng Cương  viết trong  Một đại gia thế giới sắp rót vốn vào một ông lớn công nghệ Việt Nam?  lúc  23/4/2012  :  Theo giới thiệu vậy thì chắc chắn là VC Corp thôi,..
Bình luận  ThanhChung  viết trong  Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt  lúc  17/4/2012  :  Mot loai duoc thao qui hiem rat mong doc gia nen..
Tin tổng hợp từ các báo
 
 
Bản quyền © 2005-2014 của ScTech. Phần mềm TradePortal phiên bản 4.

Liên kết website