Chỉ số chứng khoán

Chỉ số thế giới
 
Tài chính quốc tế

“Dịch vụ” và “Công nghiệp”: Chọn hướng đi nào?

Thứ 4 11/05/2011 16h:49
“Dịch vụ” và “Công nghiệp”: Chọn hướng đi nào?
Tự do hóa thương mại dịch vụ sẽ có lợi hơn nhiều so với kêu gào đòi hỗ trợ cho các ngành công nghiệp.

Người hùng trong cuốn tiểu thuyết “Mục sư Mỹ” của Philip Roth là ông chủ một công ty sản xuất găng tay. Seymour “Swede” Levov tiếc nhớ những kỹ năng đã mất đi khi ông chuyển công đoạn sản xuất ra nước ngoài: nghệ thuật cắt may, những đường may khó nơi ngón tay.



Nhưng ông còn buồn vì sự đi xuống của chính thành phố Newark, từ một nơi mà “trên con phố nào người dân cũng đang chăm chỉ làm việc” trở thành một nơi “có quán rượu giăng khắp mọi con phố…thành phố tồi tệ nhất trên thế giới.”





Nhiều người ở các nước giàu không an tâm khi tỷ trọng công nghiệp trong GDP liên tục giảm (xem đồ thị). Quan điểm phổ quát ấy nay nhận được sự hưởng ứng từ cả giới học giả.



Một nghiên cứu gần đây viết cho Hội đồng quan hệ đối ngoại của Michael Spence và Sandile Hlatshwayo cho rằng kinh tế Mỹ phải tìm cách tăng số việc làm trong các ngành “buôn bán được” (tradable sectors), tức các ngành có sản phẩm có thể buôn bán xuyên biên giới. Trong số đó có một số ngành dịch vụ như tài chính nhưng chủ yếu vẫn là công nghiệp.



Hai nhà nghiên cứu khảo sát tỉ mỉ số liệu về lực lượng lao động Mỹ và phát hiện ra rằng kể từ năm 1990 các ngành “có thể buôn bán được” gần như chẳng có tạo thêm được việc làm mới nào cho nước Mỹ.



Từ năm 1990 đến năm 2008, kinh tế Mỹ có thể 27,3 triệu việc làm. Gần như toàn bộ số đó là nhờ các ngành dịch vụ “không buôn bán được” (non-tradable services) như giáo dục, y tế, bán lẻ và dịch vụ công (26,7 triệu việc làm). 0,6 triệu việc làm tăng thêm trong các ngành “buôn bán được” là nhờ tăng trưởng trong các ngành dịch vụ “buôn bán được” (tradable services) như tài chính và bảo hiểm, trong khi công nghiệp chỉ tạo được thêm một số rất ít việc làm mới.



Xu hướng tăng trưởng việc làm phân theo ngành kể trên ở các nước giàu khác cũng y như vậy (xem đồ thị), điều đó cho thấy chúng phải có cùng nguyên nhân.






Nhiều khả năng nhất là do thay đổi công nghệ và toàn cầu hóa. Nhờ hai yếu tố này mà các quốc gia không cần phải chuyên môn hóa hoàn toàn vào một loại hàng hóa hay dịch vụ mà có thể vào từng bước cụ thể trong quá trình sản xuất. Các công đoạn có giá trị gia tăng thấp được chuyển tới các nước đang phát triển vốn có nhân công rẻ hơn. Các nước phát triển vẫn giữ lại các công việc “cao cấp”.



Kết quả là, nhìn chung số việc làm trong ngành công nghiệp ở Mỹ giảm xuống trong khi giá trị gia tăng trên mỗi công nhân tăng mạnh. Trong các ngành dịch vụ “buôn bán được” mà Mỹ vẫn duy trì được lợi thế cạnh tranh, cả giá trị gia tăng và số việc làm đều tăng. Các ngành dịch vụ “không buôn bán được” cũng vậy vì các ngành này tồn tại ở nơi nào có khách hàng.



Thế thì vì sao lại phải lo lắng? Hai nhà kinh tế trên lo ngại rằng nhu cầu đối với các ngành “không buôn bán được” có thể không còn tăng trưởng được với tốc độ như những thập kỷ qua nữa vì cả chính phủ lẫn người tiêu dùng vốn đang gặp khó khăn tài chính đều sẽ hạn chế chi tiêu và tác động xấu các ngành gần đây tạo ra nhiều việc làm như bán lẻ, y tế và dịch vụ công.



Vì thế họ cho rằng chính phủ Mỹ nên đầu tư vào các công nghệ có thể giúp mở rộng quy mô khu vực “buôn bán được”. “Thay đổi cơ cấu kinh tế mới là vấn đề quan trọng”, họ viết, “và có thể tác động vào quá trình này bằng các cách tương đối hiệu quả.”



Thực tế, vẫn chưa rõ liệu những chính sách ấy có hiệu quả không. Nhưng nhiều người sẽ đặt câu hỏi về sự cần thiết của kiểu chính sách ấy ngay từ đầu. Nếu sức cầu yếu giữ lãi suất và đồng đôla ở mức thấp, khu vực “có thể buôn bán được” có khả năng sẽ tăng trưởng mà không cần hỗ trợ từ nhà nước.



Mỹ vẫn là nhà sản xuất công nghiệp lớn nhất thế giới. Trong giai đoạn 1980-2009, cả Mỹ và Nhật đã tăng gần gấp đôi sản lượng công nghiệp của mình và tính theo giá trị tuyệt đối thì chẳng có nước G7 nào lại có sản lượng công nghiệp giảm.



Thực tế thì các công đoạn sản xuất có giá trị gia tăng thấp đã được chuyển đến những nước như Trung Quốc với lực lương nhân công giá rẻ đông đảo, nhưng chẳng hiểu vì sao lại nên chống lại xu hướng này.



“Mê tín công nghiệp”



Jagdish Bhagwati từ ĐH Columbia tính toán rằng những ai cho rằng nên hỗ trợ cho công nghiệp tại các nước giàu đã mắc chứng “mê tín công nghiệp”.



Ông Bhagwati nghĩ một nguyên nhân khiến người ta thích thú với công nghiệp đến thế là do lầm tưởng rằng ngành này thúc đẩy tiến bộ công nghệ nhanh hơn dịch vụ. Ông chỉ ra rằng các công ty logistics, các nhà bán lẻ lớn và các công ty viễn thông đều đã cho ra đời rất nhiều phát minh còn với ngành nông nghiệp, ví dụ điển hình nhất chính là các hạt giống biến đổi gien.



Dale Jorgenson từ ĐH Havard cho rằng các công ty dịch vụ Mỹ, đặc biệt là các nhà bán buôn và bán lẻ, trong thập kỷ qua đã thu được rất nhiều lợi ích từ công nghệ thông tin. Các công ty như Walmart và Cisco đã xây dựng được các chuỗi cung toàn cầu, kết nối quầy thu ngân siêu thị với các nhà máy trên khắp thế giới.



Ông Bhagwati cũng cho rằng giả thuyết thứ hai của những người “mê tín công nghiệp” rằng công nghiệp tạo nhiều việc làm hơn về cơ bản cũng sai. Thay đổi cơ cấu sản lượng theo hướng ưu tiên cho công nghiệp không tạo ra nhiều việc làm mới, ông nói. Các năm tiền khủng hoảng cho thấy tăng sức cầu đối với các ngành dịch vụ “không buôn bán được” cũng có tác dụng chẳng kém.



Vẫn chưa chắc liệu sức cầu thế giới đối với ngành dịch vụ (dù “buôn bán được” hay không”) có giảm. Khi các nền kinh tế mới nổi giàu lên, họ sẽ có nhu cầu đối với tất cả các loại dịch vụ, bao gồm cả những ngành dịch vụ cần nhiều kỹ năng mà các nước như Anh và Mỹ vẫn có lợi thế so sánh.



Ưu tiên công nghiệp chỉ vì nó giúp thúc đẩy xuất khẩu nghĩa là đã quên mất thực tế rằng ngày càng nhiều ngành dịch vụ nay cũng có thể xuất khẩu được và các nước giàu thường xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Ví dụ như cả Mỹ và Anh đều có thặng dư thương mại dịch vụ.



Tuy vậy, các nước giàu vẫn gặp phải nhiều rào cản khi muốn tận dụng lợi thế của mình. Thương mại dịch vụ vẫn phải chịu quá nhiều hạn chế, và thực tế này không chỉ tồn tại ở các nền kinh tế mới nổi.



Mario Monti từ ĐH Bocconi ở Milan phát hiện ra rằng chỉ 20% dịch vụ cung cấp ở Liên minh Châu Âu (EU) có các “thành tố xuyên biên giới” (tức có tồn tại xuất nhập khẩu dịch vụ - ND). Có lẽ nỗ lực tự do hóa thương mại dịch vụ sẽ có lợi hơn nhiều so với kêu gọi hỗ trợ cho ngành công nghiệp.



Minh Tuấn
Theo Economist




Số lượt xem: 207
 
Bình luận
Đọc lại dữ liệu
Không có bình luận nào.
 


Nhập mã chứng thực:

Vui lòng gõ có dấu và không quá 1000 chữ.
 
Các tin mới
Các tin cũ
 
 

_

 
Đọc nhiều nhất
Bình luận  Mr Lam  viết trong  Nuôi cánh kiến đỏ, hướng thoát nghèo ở Mường Lát  lúc  22/9/2012  :  Tôi cần nhập số lượng lớn nhựa Cánh Kiến, vui long..
Bình luận  thang  viết trong  Đề xuất tách Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện  lúc  15/6/2012  :  đồng ý
Bình luận  vinh  viết trong  Hoa khôi - Doanh nhân Nguyễn Thu Hương: Người đẹp thẳng tay “đập nát bình hoa”  lúc  3/6/2012  :  tai sac di cung, qua la thanh cong
Bình luận  Vinh  viết trong  [Infographic] Apple qua các con số  lúc  15/5/2012  :  I love Apple !!!!!!!
Bình luận  Hồng Cương  viết trong  Một đại gia thế giới sắp rót vốn vào một ông lớn công nghệ Việt Nam?  lúc  23/4/2012  :  Theo giới thiệu vậy thì chắc chắn là VC Corp thôi,..
Bình luận  ThanhChung  viết trong  Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt  lúc  17/4/2012  :  Mot loai duoc thao qui hiem rat mong doc gia nen..
 
 
Bản quyền © 2005-2014 của ScTech. Phần mềm TradePortal phiên bản 4.

Liên kết website