Chỉ số chứng khoán

Chỉ số thế giới
 
 
 
Tài chính quốc tế

Tại sao kinh tế Mỹ khủng hoảng?

Thứ 2 06/12/2010 17h:24
Tại sao kinh tế Mỹ khủng hoảng?
Việc yêu cầu FED kích thích kinh tế Mỹ tăng trưởng trở lại giống như việc buộc phi công đang mắc kẹt giữa biển Atlantic bay nốt phần đường còn lại với chỉ một động cơ.

Trên phố Wall, Đại Suy thoái cuối cùng đã không kéo dài quá lâu. Sau khi thiệt hại 42,6 tỷ USD trong năm 2008, ngành chứng khoán Mỹ đã kiếm được 55 tỷ USD lợi nhuận trong năm 2009, cao hơn kỷ lục trước đó và dành 20,3 tỷ USD để trả thưởng.





Mùa xuân năm 2010, phố Wall tiếp tục kiếm được tiền. Từ tháng 1 đến tháng 3/2010, bộ phận ngân hàng đầu tư của Citigroup lãi 2,5 tỷ USD. Goldman Sachs có quý tang trưởng mạnh nhất, doanh thu ròng lên tới 7,4 tỷ USD.





Khoảng gần 1,5 năm sau khi ngân hàng Lehman Brother sụp đổ, phố Wall lại kinh doanh có lãi.





Ông Thomas DiNapoli, trưởng kiểm soát tại bang New York và theo dõi chặt chẽ lợi nhuận phố Wall, chỉ ra: “Đối với phần lớn người Mỹ, các khoản thưởng trên như những liều thuốc đắng khó nuốt và khó chấp nhận được. Người đóng thuế cứu họ và cuối cùng họ lại kiếm lời lớn trong khi đó nhiều gia đình chính tại New York không đủ tiền để sống.”





Tại nhiều khu vực khác của nước Mỹ, người Mỹ không chỉ tức giận, họ nổi điên lên với những khoản thưởng khổng lồ trên phố Wall và những chính trị gia đã quyết định cứu các tổ chức tài chính. Như một chính trị gia nổi tiếng đã chỉ ra: “Người Mỹ không thích các gói giải cứu.”





Tuy nhiên, xét trên quan điểm kinh tế thuần túy, chương trình giải cứu của thời kỳ cựu Tổng thống Bush và Tổng thống Obama đã khá thành công. Từ tháng 7/2009, GDP tăng trưởng ổn định, đúng theo dự báo mà Bộ trưởng Tài chính Mỹ và chủ tịch FED đã đưa ra.





Tốc độ tăng trưởng khá khiêm tốn, khoảng 3% tính theo năm thế nhưng đủ để khiến các chuyên gia bi quan thất vọng.





Tính theo tổng sản lượng hàng hóa dịch vụ, suy thoái kinh tế đã chấm dứt nhanh hơn so với dự báo.





Tháng 5/2010, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) dự báo kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng 4,6% trong năm 2010 và 4,5% trong năm 2011. Bất chấp những lo sợ về suy thoái kinh tế lần 2, kinh tế toàn cầu thực chất vẫn đang phục hồi tốt.





Ngoại trừ việc để ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ, các nhà hoạch định chính sách kinh tế Mỹ đã tránh được sai lầm của thập niên 1930. Bằng việc bơm tiền của người đóng thuế Mỹ vào các tổ chức tài chính đang gặp khó khăn và đảm bảo cho các khoản nợ của nhóm ngân hàng này, họ đã ngăn được quá trình xuống giá cổ phiếu và một số loại tài sản khác xuống sâu hơn, hoạt động bán tháo hoảng loạn.





Bằng việc hạ lãi suất xuống gần mức 0%, họ ngăn được đà đi xuống của thị trường bất động sản. Với chính sách giảm thuế và chi tiêu công, chính phủ các nước ngăn được quy trình đi xuống của nền kinh tế trong đó nhu cầu hàng hóa dịch vụ liên tục giảm khiến các công ty hạn chế lao động, thất nghiệp tăng và nhu cầu lại giảm sâu hơn.





Ít nhất trong 1 năm, Keynes đã đúng: các nền kinh tế đương đầu với bong bóng đầu cơ nhưng vấn đề không bị để lại chịu sự điều chỉnh của thị trường. Trong khi đó việc sử dụng mạnh mẽ chính sách kích thích tài khóa và tiền tệ có thể được coi như theo đúng đường lối của Keynes, nhóm chương trình còn lại chẳng theo bất kỳ lý thuyết, mô hình nào.





Chương trình giải cứu ngân hàng và nhiều chương trình trợ cấp khác dành cho lĩnh vực tài chính không liên quan đến bất kỳ tín điều kinh tế nào: Đó là những biện pháp khẩn cấp được áp dụng một cách miễn cưỡng. Thay cho phụ thuộc vào một lý thuyết nào đó về khủng hoảng hay sử dụng một động thái chính sách, các nhà hoạch định chính sách thực hiện cách tiếp cận linh hoạt, cố gắng đưa ra nhiều biện pháp cùng lúc và điều chỉnh khi cần thiết.





Chỉ duy nhất trên phố Wall, sự phục hồi diễn ra chậm chạp. Tháng 9/2010, 9,6% lực lượng lao động Mỹ không có việc làm, con số đó chưa kể đến hơn 7 triệu người đã ngừng tìm kiếm việc làm hay buộc phải đi làm bán thời gian.





Tính cả nhóm người này, tỷ lệ thất nghiệp ở thời điểm tháng 9/2010 lên tới 17,1%, tương đương cứ 6 người Mỹ có 1 người mất việc làm.





Nhiều hộ gia đình đang khó khăn với giá trị các khoản thế chấp lớn hơn cả giá trị ngôi nhà họ. Tại bang Miami, giá bất động sản thấp hơn 50% so với đỉnh cao vào năm 2006. Tại Las Vegas, mức sụt giảm lên tới 55%. Trên khắp nước Mỹ, mức sụt giảm nói chung khoảng 30%.





Thay cho việc chi tiêu, nhiều hộ gia đình và các công ty đua tích trữ tiền mặt và tiết kiệm. Quý 2/2010, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của kinh tế Mỹ đạt 1,6%, nhiều người vì thế sợ hãi về khả năng kinh tế Mỹ lại suy thoái.





Suy thoái kinh tế trầm trọng hơn, chính phủ nhiều nước, trong đó có Mỹ, đã chịu thâm hụt ngân sách nặng nề và điều này không khỏi khiến nhà đầu tư vào trái phiếu chính phủ Mỹ tức giận.





Đầu tháng 5/2010, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Liên minh châu Âu (EU) cam kết dành 155 tỷ USD cứu Hy Lạp. Tại Hy Lạp, nguồn thu thuế của chính phủ thấp hơn chi tiêu tới 13%.





Không mang lại tác dụng bình ổn thị trường, gói giải cứu dành cho Hy Lạp khiến người ta sợ hãi vấn đề tương tự sẽ diễn ra tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và nhiều nước châu Âu nợ nần nặng nề khác. Khi các nhà đầu cơ đua nhau bán tháo đồng euro, EU gấp rút tảo a quy mô 750 tỷ euro để giúp bất kỳ nước nào gặp khó khăn.





Nếu sự phục hồi đang diễn ra, chẳng qua nó cũng chỉ rất mong mạnh và hết sức cay đắng. Dù phản ứng của các nhà hoạch định chính sách kinh tế giúp ngăn hoạt động kinh tế sụp đổ, phản ứng không mấy được lòng giới chính trị gia, điều mà Bộ trưởng Tài chính Mỹ đã thừa nhận: “Quan điểm của chúng tôi chính là chúng tôi đã thành công trong việc thoát ra khỏi khủng hoảng tài chính và tránh được Đại Khủng hoảng hay Đại Giảm phát hoặc những cái kiểu như vậy. Chúng tôi đã cứu được kinh tế nhưng lại để mất sự ủng hộ của công chúng.”





Xét đến bản chất chính sách mà chính quyền cựu Tổng thống Bush và Obama đã áp dụng, sự phẫn nộ của công chúng rất dễ hiểu. Đến cuối năm 2009, phần lớn ngân hàng lớn nhất Mỹ đã trả lại tiền giải cứu nhưng họ vẫn thuộc diện đã nhận được quá nhiều hỗ trợ.





Khi FED duy trì lãi suất ngắn hạn ở mức gần 0%, tổ chức tài chính như Citigroup và Goldman Sachs có thể vay tiền từ một cơ quan này của chính phủ (FED) hay từ nhà đầu tư sau đó cho cơ quan khác vay lại với lãi suất 3 đến 4%.





Như vậy, tổ chức tài chính phố Wall kiếm lời lớn mà thực tế không làm đúng nhiệm vụ của họ: cấp tín dụng cho các công ty. Trong khi lợi nhuận của các ngân hàng tăng mạnh, nhiều công ty và cá nhân vẫn không vay được tiền.





Từ quan điểm kinh tế, vấn đề quan trọng nhất với các chương trình giải cứu không phải là họ làm giàu cho những chuyên gia làm việc trong ngành ngân hàng mà ở chỗ nó làm trầm trọng thêm vấn đề ở tâm điểm hệ thống tài chính.





Bằng việc đảm bảo hàng nghìn tỷ USD dưới hình thức các khoản vay và đảm bảo nợ cho các tổ chức có vấn đề, chính phủ Mỹ và các nước khác đã tạo ra hành lang an toàn cho các ngân hàng Mỹ và nhiều tổ chức tài chính. Nếu không được kiểm soát kỹ càng, mọi chuyện cuối cùng sẽ dẫn đến việc phải tung ra gói giải cứu lớn hơn.





Một khi người làm việc trong lĩnh vực tài chính cảm thấy chính phủ sẽ đỡ lưng cho họ, họ sẽ tiếp tục những hành vi tiềm ẩn rủi ro cao, vốn được gọi “rủi ro đạo đức”.





Trong nghiên cứu quan trọng công bố vào tháng 11/2009, 2 chuyên gia kinh tế thuộc Ngân hàng Trung ương Anh chỉ ra việc thông báo sẽ không bao giờ còn kế hoạch giải cứu nào không giải quyết được vấn đề. Các nhà hoạch định chính sách kinh tế đơn giản sẽ nói “không bao giờ” thêm một lần nữa.





Bên ngoài biên giới Mỹ, mọi chuyện cũng tương tự. Dù kịch liệt chỉ trích quan điểm tự do của người Mỹ, chính phủ châu Âu và châu Á đã không thể hiện bất kỳ mong muốn nào trong việc dọn sạch chính hệ thống tài chính của họ.





Chính phủ các nước lớn tại châu Âu với nhiều ngân hàng hoạt động theo mô hình đa dịch vụ vận động chống lại mọi nỗ lực chia nhỏ các ngân hàng này.





Đối với quy định vốn áp dụng cho các ngân hàng, điều tương tự cũng diễn ra. Đến tháng 9/2010 khi tiêu chuẩn vốn mới được công bố, tiêu chuẩn lỏng lẻo đến nỗi quá nhiều ngân hàng lớn hài lòng với nó.





Khi Đảng Cộng hòa chiến thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, tương lai của gói giải cứu lần thứ 2 trở nên mù mịt hơn.





Một điều đã rõ ràng: kinh tế cần thêm sự hỗ trợ. Quý 3/2010, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa dịch vụ sản xuất tại Mỹ tăng trưởng chỉ 0,6%. Như vậy đà phục hồi kinh tế hết sức mong manh.





Việc chỉ phụ thuộc vào chủ tịch FED và các đồng nghiệp của ông tại FED để kích thích kinh tế Mỹ tăng trưởng trở lại là chiến lược tiềm ẩn nhiều rủi ro, giống như việc buộc phi công đang mắc kẹt giữa biển Atlantic bay nốt phần đường còn lại với chỉ một động cơ. Cuối cùng, người phi công đó có thể thành công thế nhưng nếu động cơ còn lại hoàn toàn có thể được khởi động, tại sao không làm vậy?





Vũ Nguyễn
Theo Nytimes




Số lượt xem: 333
 
Bình luận
Đọc lại dữ liệu
Không có bình luận nào.
 


Nhập mã chứng thực:

Vui lòng gõ có dấu và không quá 1000 chữ.
 
Các tin mới
Các tin cũ
 
 

_

 
Đọc nhiều nhất
Bình luận  Mr Lam  viết trong  Nuôi cánh kiến đỏ, hướng thoát nghèo ở Mường Lát  lúc  22/9/2012  :  Tôi cần nhập số lượng lớn nhựa Cánh Kiến, vui long..
Bình luận  thang  viết trong  Đề xuất tách Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện  lúc  15/6/2012  :  đồng ý
Bình luận  vinh  viết trong  Hoa khôi - Doanh nhân Nguyễn Thu Hương: Người đẹp thẳng tay “đập nát bình hoa”  lúc  3/6/2012  :  tai sac di cung, qua la thanh cong
Bình luận  Vinh  viết trong  [Infographic] Apple qua các con số  lúc  15/5/2012  :  I love Apple !!!!!!!
Bình luận  Hồng Cương  viết trong  Một đại gia thế giới sắp rót vốn vào một ông lớn công nghệ Việt Nam?  lúc  23/4/2012  :  Theo giới thiệu vậy thì chắc chắn là VC Corp thôi,..
Bình luận  ThanhChung  viết trong  Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt  lúc  17/4/2012  :  Mot loai duoc thao qui hiem rat mong doc gia nen..
Tin tổng hợp từ các báo
 
 
Bản quyền © 2005-2014 của ScTech. Phần mềm TradePortal phiên bản 4.

Liên kết website