Chỉ số chứng khoán

Chỉ số thế giới
 
 
 
Tài chính quốc tế

Ngân hàng cần bao nhiêu vốn (3): “Chàng béo” thích “lang chạ”

Thứ 7 04/06/2011 09h:22
Ngân hàng cần bao nhiêu vốn (3): “Chàng béo” thích “lang chạ”
Khủng hoảng tài chính cũng như bệnh AIDS, chủ yếu lây lan do một số “đối tượng” có “liên kết” quá rộng.
10]>

Bài viết này nằm trong chuỗi Báo cáo đặc biệt của tạp chí The Economist về hệ thống ngân hàng toàn cầu.



“Lớp lót” cho các chàng béo



Khi tư duy về “tấm đệm vốn” mà các ngân hàng lớn trên thế giới phải có, nên coi đó là một loại hình bảo hiểm. Theo Basel 2, các ngân hàng lớn nhất thế giới nhìn chung được phép nắm giữ số vốn nhỏ hơn các ngân hàng nhỏ vì rủi ro của họ được phân tán rộng hơn.



Nhìn chung thì điều đó cũng có phần đúng. Nhiều ngân hàng lớn như HSBC và JPMorgan có công duy trì dòng chảy tín dụng trong khủng hoảng khi các ngân hàng nhỏ hơn tháo chạy. Dù vậy, sự sụp đổ của Lehman và gói giải cứu Citigroup và AIG cũng cho thấy các tổ chức tài chính lớn và liên kết rộng có thể gây tác hại lớn đến đâu nếu chúng đổ vỡ.



Một bài học nữa từ khủng hoảng là cơ quan giám sát nên quan tâm đến không chỉ sức khỏe của từng ngân hàng mà còn của cả toàn hệ thống tài chính. Vẫn có bất đồng về cách đánh giá tính liên kết hay tư duy về “cú sốc hệ thống”, dù vậy các ý kiến đã đi tới thống nhất rằng hệ thống ngân hàng là một hệ thống phức tạp, trong đó rủi ro có thể xuất phát từ những tương tác giữa các ngân hàng thay vì chỉ từ việc một ngân hàng riêng lẻ phá sản.



Lập luận này có nghĩa rằng hệ thống tài chính có thể sụp đổ ngay cả khi phần lớn các ngân hàng về cơ bản vẫn hoạt động tốt. Nó cũng cho thấy một số ngân hàng khỏe mạnh có thể phải giữ nhiều vốn hơn so với mức cần thiết để đảm bảo khả năng thanh toán nhằm bảo đảm cho phần còn lại của hệ thống hoạt động liên tục.



Đã “béo” còn hay “lang chạ”



Nhà kinh tế Andrew Haldane và nhà động vật học Robert May so sánh kinh tế học với sinh học trong một bài báo trên tạp chí Nature và cho rằng các tổ chức tài chính lớn là “những kẻ truyền bệnh nguy hiểm” trong một cơn đại dịch tài chính vì chúng liên kết với quá nhiều thành viên thị trường nhỏ hơn.



Haldane và May cho rằng cũng giống như phần lớn các bệnh lây truyền qua đường tình dục như HIV-AIDS đều lây lan do một số ít người sống buông thả, một số ít các ngân hàng tổng hợp cực lớn liên kết với cực nhiều các ngân hàng nhỏ hơn và do đó tạo nên nguy cơ khủng khiếp. Chỉ buộc vài ngân hàng lớn áp dụng các tiêu chuẩn an toàn hơn có thể giảm mạnh rủi ro trong hệ thống tài chính.



Một giải pháp là buộc các tổ chức tài chính lớn và có tính quan trọng cao đối với toàn hệ thống có thêm một “lớp lót vốn” nữa. Tuy vậy, có rất nhiều ý kiến phản đối “lớp lót” này, đặc biệt là từ các ngân hàng lớn nhất và “buông thả” nhất.



Họ nhận được sự ủng hộ từ cơ quan điều tiết ở vài nước đã gần như thoát được khủng hoảng, như Pháp và Nhật Bản. Những nước này cũng lập luận không kém phần hợp lý rằng chỉ nguyên quy mô là chưa đủ để đánh giá tầm quan trọng đối với toàn hệ thống hay tính rủi ro của ngân hàng.



Ví dụ như các ngân hàng lớn nhất Nhật Bản đều tập trung vào thị trường nội địa và chủ yếu huy động vốn bằng tiền gửi tại Nhật. Nếu một trong số đó sụp đổ, những gì bên ngoài biên giới nước Nhật sẽ ít bị ảnh hưởng, vì thế buộc tất cả các ngân hàng lớn trên toàn cầu phải giữ thêm một “lớp lót” vốn nữa là không hợp lý.



Cũng có một số ý kiến về mặt lý thuyết phản đối việc đưa ra một danh sách các ngân hàng có tầm quan trọng với toàn hệ thống.Bất kỳ ngân hàng trong danh sách này cũng đều sẽ được xem là quá lớn để sụp đổ và do đó đáng được “giải cứu” nếu cần.



Elijah Brewer từ ĐH DePaul và Julapa Jagtiani từ FED Philadelphia nghiên cứu các vụ sáp nhập ngân hàng tại Mỹ từ năm 1991 đến năm 2004 và phát hiện thấy ngân hàng sẵn sàng trả một khoản phụ trội (premium) đáng kể để tổng tài sản vượt quá con số 100 tỷ đôla (khi ấy được xem là gấp 3 lần mức được coi là “quá lớn để sụp đổ”).



Một nghiên cứu khác của FED New York cho thấy khi danh sách liệt kê 11 ngân hàng Mỹ bị coi là quá lớn để sụp đổ năm 1984, xếp hạng tín dụng của họ tăng và chi phí huy động giảm.



Lợi vẫn nhiều hơn hại



Tuy vậy, lợi thế của “lớp lót vốn” trên vượt trên rủi ro nó mang lại ở ba điểm sau.

Số lượt xem: 140
 
Bình luận
Đọc lại dữ liệu
Không có bình luận nào.
 


Nhập mã chứng thực:

Vui lòng gõ có dấu và không quá 1000 chữ.
 
Các tin mới
Các tin cũ
 
 

_

 
Đọc nhiều nhất
Bình luận  Mr Lam  viết trong  Nuôi cánh kiến đỏ, hướng thoát nghèo ở Mường Lát  lúc  22/9/2012  :  Tôi cần nhập số lượng lớn nhựa Cánh Kiến, vui long..
Bình luận  thang  viết trong  Đề xuất tách Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện  lúc  15/6/2012  :  đồng ý
Bình luận  vinh  viết trong  Hoa khôi - Doanh nhân Nguyễn Thu Hương: Người đẹp thẳng tay “đập nát bình hoa”  lúc  3/6/2012  :  tai sac di cung, qua la thanh cong
Bình luận  Vinh  viết trong  [Infographic] Apple qua các con số  lúc  15/5/2012  :  I love Apple !!!!!!!
Bình luận  Hồng Cương  viết trong  Một đại gia thế giới sắp rót vốn vào một ông lớn công nghệ Việt Nam?  lúc  23/4/2012  :  Theo giới thiệu vậy thì chắc chắn là VC Corp thôi,..
Bình luận  ThanhChung  viết trong  Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt  lúc  17/4/2012  :  Mot loai duoc thao qui hiem rat mong doc gia nen..
Tin tổng hợp từ các báo
 
 
Bản quyền © 2005-2014 của ScTech. Phần mềm TradePortal phiên bản 4.

Liên kết website