Chỉ số chứng khoán

Chỉ số thế giới
 
 
 
Tài chính ngân hàng

Rủi ro nợ xấu ngoại tệ và áp lực tỉ giá cuối năm

Thứ 4 05/10/2011 12h:15
Rủi ro nợ xấu ngoại tệ và áp lực tỉ giá cuối năm
Tỉ lệ nợ xấu ngoại tệ có xu hướng tăng cao hơn nội tệ và cũng tăng theo tốc độ tăng trưởng cho vay ngoại tệ. Tính đến cuối tháng 7.2011, nợ xấu ngoại tệ chiếm gần 2,9% dư nợ ngoại tệ.
Mức tăng trưởng nợ xấu ngoại tệ/tổng dư nợ ngoại tệ toàn ngành ngân hàng đạt 1,24%. Đây sẽ là sức ép lên tỉ giá, vì những tháng cuối năm là khoảng thời gian các khoản vay ngoại tệ sẽ đáo hạn.   Phóng viên đã có  trao đổi với Tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, xung quanh vấn đề này.

Một số chuyên gia dự báo rằng, với mức tăng trưởng tín dụng ngoại tệ khá cao như hiện nay, đến hết năm, mức tăng sẽ lên tới 30%. Con số này có đáng lo ngại?

Việc tín dụng ngoại tệ tăng nhanh hơn mức huy động ngoại tệ gây ra nhiều rủi ro. Đó là áp lực lên tỉ giá vào giai đoạn các khoản vay đáo hạn. Có thể nhìn từ bài học của năm 2010. Khi áp lực này cộng hưởng với một số yếu tố khác sẽ gây sức ép lên lạm phát.


Mặt khác, trong mối tương quan giữa ngân hàng và doanh nghiệp, rất dễ có rủi ro mất cân đối giữa nội tệ và ngoại tệ. Ví dụ, nếu đơn vị đi vay ngoại tệ cũng có nguồn thu ngoại tệ thì không vấn đề gì. Nhưng nếu đi vay ngoại tệ mà chỉ thu về nội tệ, đó là vấn đề lớn. Sự mất cân đối sẽ làm tăng áp lực lên tỉ giá và lạm phát cuối năm.


Nợ xấu ngoại tệ có xu hướng tăng theo tín dụng ngoại tệ. Điều này có tạo áp lực lên tỉ giá và khả năng cho vay, chi trả của các ngân hàng thương mại?


Đúng vậy. Nợ xấu ngoại tệ sẽ gây áp lực lên thị trường ngoại hối, sau đó là lên lạm phát. Nó cũng dẫn đến sự mất cân đối cơ cấu đồng tiền trong bảng cân đối tài sản của cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp.


Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2008 có nhiều nguyên nhân. Một nguyên nhân chính là giám sát không tốt các dòng vốn ra vào giữa bên ngoài và trong nước, đối với việc vay mượn nội tệ, ngoại tệ và khả năng làm ra ngoại tệ hay nội tệ của doanh nghiệp. Từ đó gây mất cân đối dòng tiền. Hơn nữa, việc ngân hàng huy động ngắn hạn mà cho vay dài hạn cũng làm mất cả cân đối cơ cấu thời hạn. Những yếu tố này gây ra khủng hoảng.


Rủi ro sẽ rất lớn đối với các ngân hàng thương mại nếu không có đủ tiền để trả nợ cho các khoản mình đi vay, hoặc doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng.


Nghĩa là các ngân hàng thương mại sẽ gặp khó khăn về thanh khoản trong thời gian tới. Ông có khuyến nghị nào về mặt chính sách để tháo gỡ nút thắt này?   Trước hết, rủi ro của hệ thống ngân hàng hiện nay có 4 yếu tố. Thứ nhất là thanh khoản. Thứ hai là sai lệch cơ cấu thời hạn (ngân hàng huy động ngắn hạn mà cho vay dài hạn). Thứ ba là rủi ro sai lệch cân đối dòng tiền (bảng cân đối tài sản có những méo mó giữa USD và VND). Thứ tư là nợ xấu gia tăng. Vấn đề quan trọng là nâng cao quản trị rủi ro. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cần dần dần đưa ra những chuẩn mực khắt khe, chặt chẽ để giám sát.   Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang rà soát lại thông tin huy động, cho vay của các ngân hàng thương mại. Tổng vay lớn hơn rất nhiều so với tổng huy động ngoại tệ, nhưng để đánh giá rủi ro cụ thể, cần phải đánh giá cơ cấu vay, người vay, mục đích vay, thời gian đáo hạn. Về điều này, không ai có thể đánh giá, trả lời chính xác hơn Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Như vậy, cần có đối thoại giữa Ngân hàng Nhà nước với ngân hàng thương mại, giữa ngân hàng thương mại với khách vay.

Ở Việt Nam, lãi suất huy động ngoại tệ tương đối cao (do thiếu ngoại tệ). Điều này làm gia tăng nguy cơ dòng tiền ngoại tệ từ nước ngoài chảy vào để hưởng lợi từ việc gửi tiết kiệm. Cần giám sát dòng tiền này ra sao thưa ông?


Rõ ràng là có vấn đề này. Lãi suất huy động ngoại tệ ở Việt Nam cao hơn lãi suất ở bên ngoài, nhất là trong bối cảnh nhiều nước phát triển như Mỹ đang hạ lãi suất đồng tiền xuống mức rất thấp. Sự chênh lệch lãi suất sẽ tạo ra sự hấp dẫn luồng vốn vào Việt Nam để hưởng mức lãi suất cao hơn. Vì vậy, việc giám sát phải rất chặt chẽ, nhất là đối với nguồn vốn ngắn hạn. Không phải ngẫu nhiên mà vừa rồi Ngân hàng Nhà nước đã ra chỉ thị rằng, việc vay mượn nước ngoài phải được sự giám sát và chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước.


Trước đây, Ngân hàng Nhà nước chỉ giám sát tổng vay, chứ không phải là từng dự án vay. Nhưng nay việc giám sát đã chặt chẽ hơn. Song dù sao đây cũng chỉ là biện pháp ngắn hạn. Về lâu dài, bên cạnh việc tăng cường giám sát, thống kê, cần phải có lộ trình thích hợp mở cửa dần tài khoản vốn, nhằm tạo sự chu chuyển vốn dễ dàng hơn, cũng như đưa đồng tiền Việt Nam trở thành đồng tiền chuyển đổi. Khi đồng tiền Việt Nam chuyển đổi tương đối mạnh thì rủi ro về sai lệch đồng tiền sẽ giảm đi rất nhiều.


Ông đánh giá như thế nào về sức ép tỉ giá từ nay đến cuối năm?


Theo tôi, có 3 sức ép. Đầu tiên, lạm phát ở Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các nước đối tác của Việt Nam. Nói cách khác, tiền đồng mất giá nhanh hơn.


Thứ hai, cán cân vãng lai, cán cân thương mại của Việt Nam vẫn bị thâm hụt khá cao. Dù theo ước tính đến tháng 9.2011, tình trạng này được cải thiện rất nhiều so với năm 2010, nhưng mức thâm hụt vẫn còn lớn. Chính sự thâm hụt thương mại và vãng lai (những khoản phải thanh toán ngay) đã tạo áp lực trên thị trường ngoại hối, dẫn đến tình trạng mất cân bằng cung cầu ngoại tệ như hiện nay.


Sức ép thứ ba, như đã nói ở trên, chính là vay ngoại tệ lớn hơn nhiều so với huy động ngoại tệ. Sự chênh lệch này, vào những thời điểm đáo hạn, cũng gây áp lực lên thị trường ngoại hối.


Nhưng còn một sức ép nữa về tỉ giá là những cơn lốc giá vàng từ đầu năm đến nay và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phải liên tục cho nhập khẩu vàng. Ông nghĩ sao về vấn đề này?


Đó là sức ép cộng hưởng. Giá vàng nhìn chung có chiều hướng tăng. Khi giá thế giới tăng mà giá trong nước lại cao hơn giá thế giới thì điều này càng thúc đẩy nhập khẩu vàng.


Nhập vàng đối với những nước có đồng tiền chuyển đổi hay dự trữ ngoại tệ lớn thì không phải là vấn đề. Nhưng đối với Việt Nam, nếu nhập vàng, ngoại tệ sẽ chảy ra nước ngoài. Như thế, áp lực thiếu ngoại tệ càng lớn. Và vòng xoáy giá vàng lại cộng hưởng vào 3 áp lực vừa nêu.


Không chỉ ngoại tệ bị chảy máu, mà trong nhiều trường hợp, ngoại tệ còn bị rút ra khỏi hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, vàng nhập về lại tản mát trong nền kinh tế, chứ không phải vào trong tay Nhà nước để có thể điều khiển được. Do đó, có ý kiến cho rằng việc Ngân hàng Nhà nước cho nhập khẩu vàng chỉ là giải pháp tình thế. Giả định rằng giá vàng thế giới cứ tăng, chúng ta lại cứ bỏ ngoại tệ ra nhập vàng, trong khi ngoại tệ không có nhiều thì việc nhập sẽ kéo dài được bao lâu?   Thế thì mục tiêu ổn định tỉ giá từ nay đến cuối năm trong khoảng 1% (nghĩa là USD chỉ tăng giá tối đa 1% so với VND) của Ngân hàng Nhà nước, theo ông, có đạt được?

Chúng ta cần phải hiểu vấn đề minh bạch công khai không có nghĩa lúc nào cũng phải nói ra một con số cố định. Chẳng hạn, Singapore, một nền kinh tế mở, chủ yếu dựa vào xuất khẩu, chỉ đưa ra định hướng mục tiêu tỉ giá là đảm bảo thị trường tài chính được ổn định, đảm bảo tính cạnh tranh xuất khẩu, chứ không công bố từ nay đến cuối năm tỉ giá sẽ là bao nhiêu.


Như vậy, điều đầu tiên là cách thức tuyên bố minh bạch, rõ ràng, nhưng không phải lúc nào cũng phải là con số cụ thể. Trong nền kinh tế mở, có lúc cần ấn định rõ ràng để doanh nghiệp làm ăn, có lúc phải nhìn vào mối quan hệ tỉ giá, lãi suất, vừa đảm bảo chống lạm phát, vừa chống đô la hóa. Thời điểm công bố là rất quan trọng. Nếu lúc đó áp lực còn lớn, mà mục tiêu đảm bảo biến động không quá 1% không đạt được thì lòng tin vào chính sách sẽ bị suy giảm.


Tôi không nói việc Ngân hàng Nhà nước công bố mức biến động tỉ giá trong biên độ 1% là thích hợp hay không thích hợp, mà chỉ nhấn mạnh rằng phải tính đến nhiều yếu tố. Trong trường hợp này, tôi nghĩ Ngân hàng Nhà nước quyết tâm củng cố lòng tin thị trường, chứ không phải là không hiểu đang có áp lực lớn.


Bên cạnh đó, chúng ta còn có những thuận lợi nhất định. Chẳng hạn, tình trạng thâm hụt thương mại đã được cải thiện. Nguồn tiền tài trợ chảy vào sẽ lớn hơn thâm hụt. Do vậy, cán cân tổng thể thặng dư từ 2-4 tỉ USD. Hơn nữa, nếu chúng ta thực hiện một cách kiên quyết, nhập siêu sẽ không tăng như mọi năm, trong khi xuất khẩu đang tăng trưởng tốt nhất trong 4 năm qua (trong 9 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đã tăng lên trên 35%).


Nhìn xa hơn, nếu vĩ mô được ổn định, lạm phát được kiểm soát thì kỳ vọng tiền đồng mất giá sẽ giảm.   Theo Vũ Dũng NCĐT
Số lượt xem: 99
 
Bình luận
Đọc lại dữ liệu
Không có bình luận nào.
 


Nhập mã chứng thực:

Vui lòng gõ có dấu và không quá 1000 chữ.
 
Các tin mới
Các tin cũ
 
 

_

 
Đọc nhiều nhất
Bình luận  Mr Lam  viết trong  Nuôi cánh kiến đỏ, hướng thoát nghèo ở Mường Lát  lúc  22/9/2012  :  Tôi cần nhập số lượng lớn nhựa Cánh Kiến, vui long..
Bình luận  thang  viết trong  Đề xuất tách Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện  lúc  15/6/2012  :  đồng ý
Bình luận  vinh  viết trong  Hoa khôi - Doanh nhân Nguyễn Thu Hương: Người đẹp thẳng tay “đập nát bình hoa”  lúc  3/6/2012  :  tai sac di cung, qua la thanh cong
Bình luận  Vinh  viết trong  [Infographic] Apple qua các con số  lúc  15/5/2012  :  I love Apple !!!!!!!
Bình luận  Hồng Cương  viết trong  Một đại gia thế giới sắp rót vốn vào một ông lớn công nghệ Việt Nam?  lúc  23/4/2012  :  Theo giới thiệu vậy thì chắc chắn là VC Corp thôi,..
Bình luận  ThanhChung  viết trong  Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt  lúc  17/4/2012  :  Mot loai duoc thao qui hiem rat mong doc gia nen..
 
 
Bản quyền © 2005-2014 của ScTech. Phần mềm TradePortal phiên bản 4.

Liên kết website