Chỉ số chứng khoán

Chỉ số thế giới
 
 
 
Tài chính ngân hàng

Tín dụng dễ dãi và nỗi khó khăn về vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Thứ 3 17/05/2011 08h:14
Tín dụng dễ dãi và nỗi khó khăn về vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nền kinh tế VNỉ có tỷ lệ tiết kiệm dưới 30% GDP nhưng đầu tư luôn đạt khoảng 41-42% GDP/ năm. Số chênh lệch khoảng 10% GDP phải xử lý thông qua vay nợ trong và ngoài nước.



Trong điều kiện lãi suất vay trên 20%, chỉ một số ít công ty mới có thể có hiệu quả kinh doanh cao có thể vay được; hoặc phải chấp nhận lãi suất vay cao trong ngắn hạn. Với vai trò dẫn dắt của mình, Nhà nước cần làm gì để hỗ trợ về vốn cho các DN vừa và nhỏ?





Tín dụng dễ dãi và lạm phát





Trong mấy năm qua, tình hình vay tín dụng trong nước có nhiều nới lỏng, thủ tục khá dễ dãi. Theo Báo cáo năm 2011 của Công ty tài chính quốc tế IFC thuộc Nhóm NH thế giới, thứ hạng tín dụng của Việt Nam trong so sánh trên thế giới đã tăng từ thứ 30 lên thứ 15. Nhưng tín dụng dễ dãi không đồng nghĩa với việc sử dụng đồng vốn một cách hiệu quả.



Một số DN đã dùng vốn vay "dễ" để thực hiện các dự án có hiệu quả không chắc chắn, kể cả đầu tư vào địa ốc và thị trường chứng khoán. Một số không nhỏ trong số này có tính chất đầu cơ chứ không phải đầu tư dài hạn.

[1]Tại Hội nghị thường niên ADB, Thống đốc NNHH Nguyễn Văn Giàu cho biết, đến nay, tổng dư nợ của hệ thống tín dụng đang bằng khoảng 1-2 lần GDP Việt Nam. So với các nước, tỷ lệ này là khá cao, một số nước chỉ khoảng 0,6-0,7 GDP. Nguyên nhân, theo Thống đốc, do đây là kênh chủ yếu cấp vốn cho nền kinh tế.







Có thể nói, thời gian gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng nhờ vào tín dụng từ hệ thống NH. Dường như tăng trưởng của Việt Nam thời gian qua chủ yếu dựa vào vốn vay, do đó tăng nợ chứ không phải tăng vốn, khi nền kinh tế chỉ có tỷ lệ tiết kiệm dưới 30% GDP nhưng đầu tư luôn đạt khoảng 41-42% GDP mỗi năm. Số chênh lệch khoảng 10% GDP phải xử lý thông qua vay nợ trong và ngoài nước, làm cho tổng dư nợ quốc gia và dư nợ của Chính phủ cũng đang ở mức đáng báo động.





Các DN vừa và nhỏ do khả năng tích lũy thấp, nên các phương án đầu tư thường cũng chủ yếu dựa vào vay tín dụng của các NH và tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức.







Một nền kinh tế tăng trưởng dựa vào tăng nợ chứa đựng những bất ổn, trong đó kể cả đối với DN và cũng như với nhà nước. Phó Chủ tịch khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Credit Suisse, ông Jose Isidro N. (Lito) Camacho, tại Hội nghị ADB vừa qua cho rằng: "Bao giờ tốc độ tăng trưởng tín dụng cao cũng đi đôi với rủi ro".





Vì thế, nhìn chung tốc độ tăng dư nợ tín dụng lên cao quá mức đang làm cho tổng phương tiện thanh toán M2 tăng lên nhanh chóng, gây nguy cơ lạm phát cao cho nền kinh tế[1].







Nỗi khó khăn về vốn của DN vừa và nhỏ





Một khi lãi suất được dâng cao, mọi DN đều phải tính toán lại phương án sản xuất kinh doanh của mình. Nhưng bản chất là DN vừa và nhỏ, tức là quy mô vốn nhỏ, tuy cộng đồng DN này có thể tham gia thu hút nguồn lao động đa dạng và sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ đa dạng, với giá cả hợp lý, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Hơn nữa, tỷ suất lợi nhuận của các DN ngoài nhà nước trên vốn sản xuất và doanh thu đều thấp, chỉ đạt bình quân 2-3%, so với mức 4-6% chung của cả nước.





Theo điều tra của Bộ KH&ĐT, có tới 1/3 DN vừa và nhỏ không thể tiếp cận nguồn vốn vay.





Cũng theo điều tra thống kê hằng năm với các DN mấy năm gần đây (2006-2008), có đến 30% (năm 2006), 28% (năm 2007) và 26% (năm 2008) DN nói chung và DN ngoài nhà nước bị lỗ.





[2] Các DN ở nhiều tỉnh thành cho rằng, vướng mắc khi vay vốn sản xuất, kinh doanh, tập trung vào thủ tục vay vốn còn rườm rà, nhất là thủ tục tín chấp, quy định về chứng thư bảo lãnh; thời hạn cho vay vốn đối với các hộ sản xuất nông nghiệp có những điểm chưa phù hợp với chu kì sản xuất; nguồn vốn vay trung và dài hạn còn thiếu...



Vậy trong điều kiện lãi suất vay trên 20%, chỉ một số ít công ty mới có thể có hiệu quả kinh doanh cao có thể vay được. Để hoàn thành công trình đầu tư và dự án dở dang, một số DN đành chấp nhận lãi suất vay cao trong ngắn hạn, nhưng nhìn chung, nhiều DN khó trụ được lâu dài với mức lãi suất cao này.





Hơn nữa, các điều kiện cho vay của các NH cũng rất khó khăn [2] để tiếp cận nguồn vốn, dù lãi suất cao. Theo điều tra của Bộ KH&ĐT, có tới 1/3 DN vừa và nhỏ không thể tiếp cận nguồn vốn vay, nên dầu tư và kinh doanh cầm chừng và 1/3 tuy có tiếp cận được nhưng gặp khó khăn. Vậy giải pháp là gì?





Trước hết, với vai trò dẫn dắt của mình, Nhà nước cần tập trung hỗ trợ bảo lãnh vốn vay cho các DN vừa và nhỏ, chủ yếu phụ thuộc và bản chất của dự án có khả năng thu hồi vốn và mang lại hiệu quả xã hội.





Theo NH Phát triển Việt Nam (VDB), việc bảo lãnh tín dụng vẫn được tiếp tục và trở thành một chức năng của NH bên cạnh việc cho vay các nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước. Việc chọn đối tượng bảo lãnh chủ yếu là các DN nhỏ và vừa là phù hợp với năng lực của NH cũng như thực tế yêu cầu phát triển của các DN Việt Nam. Nhà nước cần căn cứ vào tiến bộ trong việc kiềm chế lạm phát để từng bước hạ lãi suất cho vay, tạo điều kiện sản xuất kinh doanh bình thường, vì điều này mang lại lợi ích dâu dài cho nền kinh tế.





Một số ý kiến cho rằng, Nhà nước nên khống chế trần lãi suất cho vay và từng bước hạ xuống để các DN có điều kiện lực chọn các phương án sản xuất kinh doanh thích hợp nhất, nhằm duy trì và phát triển sản xuất. Hơn hết, các công cụ kinh tế cần được sử dụng nhiều hơn để hướng NH vào các khoản vay mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế.





Đối với các DN, vấn đề là cần lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh phù hợp hơn với điều kiện vay vốn khó khăn để bảo đảm hiệu quả kinh doanh, bởi lẽ đến 70% DN còn dựa chủ yếu vào các nguồn vốn vay. Do đó, với các nguồn vốn vay lãi suất cao hiện trên 20%, các DN cần lựa chọn phương án đầu tư và kinh doanh có hiệu quả cao nhất để có thể sử dụng các nguồn vốn này, hoặc tạm thời sử dụng một số vốn vay lãi suất cao để mua các trang thiết bị cần thiết nhất, tránh đầu tư tràn lan.





Với đa số các DN đang gặp khó khăn về huy động nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh đang sử dụng nhiều cách thức, biện pháp được để tháo gỡ như kêu gọi liên doanh, liên kết giữa các thành viên trong hội để đầu tư vào các dự án khả thi; giới thiệu để các thành viên của hội vay vốn NH như lãi suất hiện nay nhưng được trả nợ theo cách thức khác nhau phù hợp với điều kiện từng DN. Cũng nên huy động thêm các nguồn vốn khác từ nội bộ cán bộ nhân viên của DN và các hình thức liên kết khác để cùng nhau vượt qua giai đoạn khó khăn, với những ưu đãi nhất định dành cho họ lâu dài sau này.



NH và tín dụng thắt chặt



Trước những diễn biến xấu của thị trường trong và ngoài nước, gây lạm phát cao, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 11 với hàng loạt giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô.



Tuy nhiên, mọi giải pháp đều có tính hai mặt của nó. Nghị quyết 11 nêu rõ, cần thực hiện tín dụng chặt chẽ, nhất là với chứng khoán và địa ốc, đồng thời lại khuyến khích các tín dụng phục vụ sản xuất trực tiếp, bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng dưới 20% và tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 15-16%. Đây là quyết sách quan trọng, nhưng không thực hiện nhanh được do một số khoản vay tiếp tục đến kỳ giải ngân. Vì thế, NH Nhà nước (NHNN) tích cực giảm tín dụng cho các lĩnh vực phi sản xuất, mua sắm hàng xa xỉ,...



Tuy nhiên, đến đầu năm 2011, nhiều NH chủ yếu vẫn là cho vay phi sản xuất. Chẳng hạn như, NH Phương Tây có dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất tới 52,2%; NH TMCP Đông Nam Á 21% (SeaBank), NH TMCP Nam Việt (NVB) 41%,... Nếu nay thắt chặt nhanh tín dụng có thể sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các NH này.



Nhìn tổng thể, theo báo cáo của NHNN, tính đến hết năm 2010, dư nợ cho vay phi sản xuất khoảng 431.000 tỷ đồng, chiếm 18,7% tổng dư nợ toàn ngành, trong đó, 18 NH có dư nợ lĩnh vực này từ 25% trở xuống (tính trên tổng dư nợ của NH); còn là 24 NH có dư nợ từ 25% trở lên. Điều nghiêm trọng là, đến cuối tháng 12/2010, dư nợ của năm NH thương mại nhà nước (Agribank, MHB, Vietinbank - CTG, BIDV và Vietcombank-VCB) là 1.097.302 tỷ đồng, chiếm 58% dư nợ của cả hệ thống NH thương mại trong nước; riêng dư nợ của Agribank đã chiếm 53% dư nợ của 37 NH TMCP còn lại.



Những con số này đã nói rõ là tăng trưởng tín dụng của hệ thống NH Việt Nam có nguồn gốc từ chính các NH lớn nhất.



Tuy nhiên, khi thắt chặt tín dụng, thì các dòng tiền chảy vào NH cũng khan hiếm, nhất là các NH nhỏ, thanh khoản kém. Do vậy, các NH đã phải nâng cao lãi suất huy động, và vì thế lãi suất cho vay cũng tăng cao. Khi NHNN ấn định trần lãi suất huy động không quá 14%, thì thực tế, do "khát" vốn, nhiều NH đã có những thủ thuật để lách, đưa lãi suất huy động lên trên 14% khá nhiều, đến 17-18%. Hệ quả là lãi suất cho vay đã bị nâng lên trên 20%, gây khó khăn cho các DN.












Theo GS. Nguyễn Quang Thái
Phó Chủ tịch, TTK Hội Khoa học Kinh tế VN
Diễn đàn kinh tế Việt Nam



Số lượt xem: 75
 
Bình luận
Đọc lại dữ liệu
Không có bình luận nào.
 


Nhập mã chứng thực:

Vui lòng gõ có dấu và không quá 1000 chữ.
 
Các tin mới
Các tin cũ
 
 

_

 
Đọc nhiều nhất
Bình luận  Mr Lam  viết trong  Nuôi cánh kiến đỏ, hướng thoát nghèo ở Mường Lát  lúc  22/9/2012  :  Tôi cần nhập số lượng lớn nhựa Cánh Kiến, vui long..
Bình luận  thang  viết trong  Đề xuất tách Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện  lúc  15/6/2012  :  đồng ý
Bình luận  vinh  viết trong  Hoa khôi - Doanh nhân Nguyễn Thu Hương: Người đẹp thẳng tay “đập nát bình hoa”  lúc  3/6/2012  :  tai sac di cung, qua la thanh cong
Bình luận  Vinh  viết trong  [Infographic] Apple qua các con số  lúc  15/5/2012  :  I love Apple !!!!!!!
Bình luận  Hồng Cương  viết trong  Một đại gia thế giới sắp rót vốn vào một ông lớn công nghệ Việt Nam?  lúc  23/4/2012  :  Theo giới thiệu vậy thì chắc chắn là VC Corp thôi,..
Bình luận  ThanhChung  viết trong  Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt  lúc  17/4/2012  :  Mot loai duoc thao qui hiem rat mong doc gia nen..
Tin tổng hợp từ các báo
 
 
Bản quyền © 2005-2014 của ScTech. Phần mềm TradePortal phiên bản 4.

Liên kết website