Chỉ số chứng khoán

Chỉ số thế giới
 
 
 
Doanh nghiệp

Đi tìm mô hình quản lý chi phí, giá thành trên thị trường viễn thông

Thứ 3 28/12/2010 09h:28
Cùng với quá trình tăng trưởng, thị trường thị trường viễn thông cũng xuất hiện một số rủi ro gắn liền với cạnh tranh.

Một trong những rủi ro chính là cạnh tranh về giá cước, khiến doanh thu bình quân trên một đơn vị thuê bao (ARPU) liên tục giảm, trong điều kiện các doanh nghiệp chưa xác định được chính xác giá thành dịch vụ.


Ông Hoàng Đức Hùng là Phó tổng giám đốc của Ersnt & Young Việt Nam. Ông có trên 14 năm kinh nghiệm làm việc tại Ernst & Young Việt Nam, Ernst & Young San Francisco (Hoa Kỳ) và Ernst & Young Brisbane (Úc) trong các lĩnh vực kiểm toán, chẩn đoán, rà soát hệ thống kiểm soát nội bộ, tư vấn về quản trị doanh nghiệp, xây dựng cẩm nang tài chính và đào tạo, tư vấn cho ngành viễn thông...


Đây sẽ là một sức ép lớn không chỉ cho các doanh nghiệp mới tham gia thị trường, mà cả các “đại gia” thông tin di động trong việc đảm bảo hiệu quả kinh doanh, thông qua các gói dịch vụ mang lại lợi nhuận thực cho doanh nghiệp.


Hơn nữa, việc có mô hình hạch toán chi phí, giá thành rõ ràng và minh bạch cũng là yêu cầu quản lý của Nhà nước (được quy định cụ thể trong Luật Viễn thông) cho các mục đích phổ cập, công ích, cũng như các yêu cầu quản lý khác, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và có kiểm soát của ngành viễn thông Việt Nam.


Đã đến lúc các doanh nghiệp cần đẩy mạnh công tác quản lý, đặc biệt là chú trọng vào việc xây dựng mô hình quản lý chi phí, giá thành phù hợp, không những đáp ứng được các yêu cầu quản lý nhà nước, mà còn góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, giảm thiểu chi phí, lành mạnh hóa thị trường viễn thông.



Thị trường và cạnh tranh


Sau hơn 10 năm đổi mới, mở cửa cho cạnh tranh, thị trường viễn thông đã có những bước tiến triển vượt bậc. Điều này thể hiện qua con số tăng trưởng vượt bậc của mật độ điện thoại và Internet, đặc biệt là mật độ điện thoại di động với tỷ lệ đã đạt đến hơn 100 thuê bao/100 dân, mức tăng trưởng trong 5 năm liên tục duy trì trên mức 100%/năm (nguồn: http://mic.gov.vn).



Ông Nguyễn Việt Long là Chủ nhiệm cấp cao Dịch vụ Tư vấn trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ của Ernst & Young Việt Nam. Ông có trên 13 năm kinh nghiệm làm việc trong ngành viễn thông, là tiến sỹ chuyên ngành kinh tế, quản lý công nghệ và chính sách tại Đại học Tổng hợp Seoul, Hàn Quốc.
Tình hình cạnh tranh trên thị trường cũng diễn ra sôi động với việc Bộ Thông tin và Truyền thông đã chính thức cấp phép cho doanh nghiệp di động thứ 9 gia nhập thị trường. Trong suốt giai đoạn từ 2004 đến 2008, với việc Bộ Thông tin và Truyền thông tạo chính sách giá cạnh tranh cho các doanh nghiệp mới (cụ thể là về giá cước kết nối và giá cước thu khách hàng), giá cước dịch vụ di động trên thị trường liên tục giảm. Chính sách ưu đãi về giá của Nhà nước, cùng với sự linh hoạt, năng động đã giúp cho nhà khai thác mới có cùng công nghệ GSM (Global System for Mobile Communications) với doanh nghiệp chủ đạo có mức tăng trưởng nhanh.


Về phía người tiêu dùng, tác động về cạnh tranh đã đem lại nhiều lợi ích về giá, về mức độ phổ cập. So với trước kia, người tiêu dùng sử dụng dịch vụ với giá rẻ và có nhiều lựa chọn hơn.


Thị phần của các mạng di động tính đến hết tháng 8/2009
(Nguồn: Business Monitor International Ltd - BMI)


Tuy nhiên, đứng về phía các doanh nghiệp, có một số tác động cần phải xem xét, đặc biệt là doanh thu trung bình/thuê bao (ARPU) suy giảm nhanh. Điều này sẽ ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận của các doanh nghiệp.


Theo quan điểm của Công ty Ernst & Young, dựa trên kinh nghiệm các thị trường viễn thông đã phát triển trên thế giới, thị trường viễn thông Việt Nam đã và đang bước vào giai đoạn tiệm cận bão hòa nếu xét trên mật độ thuê bao/100 dân và tình hình cạnh tranh trên thị trường.


Các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, sẽ chịu sức ép của cạnh tranh trên thị trường và cần có các bước chuẩn bị để bước vào giai đoạn “củng cố” của thị trường. Đây chính là thời điểm các nhà khai thác dịch vụ di động cần tập trung vào các giải pháp để duy trì ARPU.


Bảng 1: ARPU của dịch vụ điện thoại di động tại các thị trường trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương (Đơn vị: USD)


 


Năm


2008


2009


2010


2011


2012


Australia


543


544


535


523


510


China


123


120


113


105


100


Hong Kong


230


211


199


191


187


India


80


35


28


24


22


Indonesia


60


51


48


46


44


Japan


746


694


677


666


654


Korea


418


404


391


380


372


Malaysia


211


196


190


184


181


New Zealand


339


323


313


304


297


Pakistan


39


35


28


24


22


Philippines


53


47


45


44


43


Singapore


371


347


335


325


318


Taiwan


278


265


251


241


234


Thailand


85


76


73


70


68


Vietnam


46


38


35


34


33


(Nguồn: OVUM 2010; số liệu năm 2008, 2009 là số liệu thực tế, 2010 trở đi là số liệu dự báo)


Có hai cách tiếp cận chính để duy trì ARPU là giảm chi phí và phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng. Theo như kinh nghiệm của thị trường các nước trên thế giới thì rất khó để tăng ARPU.


Hầu hết ARPU tại các thị trường đều có xu hường giảm. Chỉ những thị trường mà các doanh nghiệp thành công trong quản lý chi phí và phát triển các dịch vụ gia tăng (VAS) mới duy trì được mức giảm thấp và ổn định.


Đối với Việt Nam, trong điều kiện thị trường nội dung số phục vụ cho VAS còn sơ khai, thì hoàn thiện và chuẩn hóa mô hình quản lý chi phí là nhu cầu cấp thiết, để không những tiến tới cắt giảm chi phí, mà còn phục vụ các mục tiêu quản trị khác của doanh nghiệp, bao gồm cả phát triển dịch vụ, chiến lược thị trường, giá…


 

Các giai đoạn phát triển của thị trường điện thoại di động tại Việt Nam


Yêu cầu đổi mới hệ thống quản lý của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ di động


Đứng trước yêu cầu trên, câu hỏi đặt ra là các doanh nghiệp cần phải có những hành động cụ thể gì trong giai đoạn trước mắt để hoàn thiện hệ thống quản lý chi phí? Đa phần doanh nghiệp kinh doanh di động lớn trên thị trường đều là doanh nghiệp có nguồn gốc từ doanh nghiệp nhà nước.


Các quy định, chế độ kế toán và báo cáo tài chính đều được thiết kế và áp dụng với mục đích tuân thủ chuẩn mực kế toán và các quy định tài chính chung của Nhà nước và của cơ quan chủ quản, chưa có những điều chỉnh chi tiết, cụ thể và đặc thù cho các hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh riêng biệt như viễn thông cho mục đích quản lý nội bộ.


Bản thân các doanh nghiệp cũng chưa xây dựng được hệ thống kế toán quản trị và mô hình quản lý chi phí một cách đầy đủ và chính xác. Các chi phí thường chỉ được tổng hợp và báo cáo theo loại hình (categories) như khấu hao, nhân công..., chứ không được chi tiết theo chức năng (functions) và/hoặc theo dự án như trực tiếp - gián tiếp, cố định - biến đổi, theo sản phẩm - theo đơn vị/hoạt động phát sinh… Việc tổng hợp và quản lý chi phí theo các gói sản phẩm, theo hoạt động kinh doanh hoặc theo các trung tâm lợi nhuận (profit centre) hoặc trung tâm chi phí (cost centre) là vấn đề khó khăn đối với hầu hết doanh nghiệp này.


Thực tế này có ảnh hưởng nghiêm trọng tới các quyết định quan trọng như: mở rộng đầu tư nâng cao năng lực sản xuất - kinh doanh, đưa ra chiến lược sản phảm mới, đánh giá kết quả hoạt động của các đơn vị thành viên, các chi nhánh, quản lý cắt giảm chi phí…


Hỗ trợ tự động hóa hệ thống quản lý kế toán, tài chính bằng phần mềm, hệ thống công nghệ thông tin, một trong lĩnh vực thế mạnh, cũng chưa được các doanh nghiệp viễn thông quan tâm đúng mức. Hệ quả là hệ thống hiện tại không cho phép đảm bảo thông tin cần thiết và kịp thời phục tính toán giá thành dịch vụ, tách bạch chi phí các công đoạn của quá trình cung cấp dịch vụ viễn thông.


Như vậy, để giải quyết được tận gốc bài toán giảm chi phí, quản lý giá thành dịch vụ và chuẩn bị tốt cho giai đoạn tiếp theo của thị trường (“củng cố” và “hội tụ”), lãnh đạo doanh nghiệp cần nhanh chóng xem xét việc chuyển đổi mô hình quản lý tài chính - kế toán hiện tại, xây dựng mô hình quản lý chi phí hiện đại và đặc thù cho viễn thông.


Một giải pháp hoàn thiện toàn diện cần được xem xét đầy đủ trên tất cả các khía cạnh của hệ thống quản lý kế toán - tài chính, bao gồm chính sách, dữ liệu, quy trình, tổ chức và con người, công nghệ, cũng như quản lý hiệu quả hoạt động. Có như vậy, các doanh nghiệp mới tự nâng cao được vị thế cạnh tranh, chuẩn bị cho các giai đoạn phát triển tiếp theo của thị trường, hướng đến đạt trình độ quản lý hiện đại ngang tầm khu vực và quốc tế, đảm bảo hội nhập thành công.


Theo Hoàng Đức Hùng và Nguyễn Việt Long ĐTCK
Số lượt xem: 204
 
Bình luận
Đọc lại dữ liệu
Không có bình luận nào.
 


Nhập mã chứng thực:

Vui lòng gõ có dấu và không quá 1000 chữ.
 
Các tin mới
Các tin cũ
 
 

_

 
Đọc nhiều nhất
Bình luận  Mr Lam  viết trong  Nuôi cánh kiến đỏ, hướng thoát nghèo ở Mường Lát  lúc  22/9/2012  :  Tôi cần nhập số lượng lớn nhựa Cánh Kiến, vui long..
Bình luận  thang  viết trong  Đề xuất tách Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện  lúc  15/6/2012  :  đồng ý
Bình luận  vinh  viết trong  Hoa khôi - Doanh nhân Nguyễn Thu Hương: Người đẹp thẳng tay “đập nát bình hoa”  lúc  3/6/2012  :  tai sac di cung, qua la thanh cong
Bình luận  Vinh  viết trong  [Infographic] Apple qua các con số  lúc  15/5/2012  :  I love Apple !!!!!!!
Bình luận  Hồng Cương  viết trong  Một đại gia thế giới sắp rót vốn vào một ông lớn công nghệ Việt Nam?  lúc  23/4/2012  :  Theo giới thiệu vậy thì chắc chắn là VC Corp thôi,..
Bình luận  ThanhChung  viết trong  Phát “sốt” vì cây cỏ ngọt  lúc  17/4/2012  :  Mot loai duoc thao qui hiem rat mong doc gia nen..
Tin tổng hợp từ các báo
 
 
Bản quyền © 2005-2014 của ScTech. Phần mềm TradePortal phiên bản 4.

Liên kết website